Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2019

Startup Chùa (ST)

START UP CHÙA

Đầu tư xây chùa giờ dễ ợt. Toàn thấy anh em sư tự tìm vốn xây chùa rồi xin được làm trụ trì, đại khái cũng như start up vậy. Phải làm thế vì các chùa có sẵn thì kín chỗ rồi, phấn đấu lên trụ trì là hơi bị khó, vì tuổi hưu của sư lại quá cao, chờ đến khi sư huynh nghỉ hưu để mình lên chức thì ốm. Hơn nữa, cạnh tranh bây giờ quá khốc liệt, vì còn phải đấu với anh em sư định hướng XHCN, có bảo kê, quan hệ. Không biết trong ngành có phải chạy chức không? E là có.

Chính thế nên giờ chùa mới mọc ra như nấm, giống mở công ty thôi. Vốn ít thì mở chùa mới, nhỏ, chỗ khỉ ho cò gáy, rồi thu tiền lẻ từ bần nông. Vốn dày thì mở chùa to luôn, thường là nâng cấp từ 1 chùa cũ, cổ, bé bằng lỗ mũi. Kiểu đó cơ bản cũng như anh em đầu tư bỏ vốn vào mấy công ty nhỏ, có tiềm năng, rồi PR, làm thương hiệu, rồi thu tiền. Kiểu này thường chỉ hiệu quả khi đầu tư vào mấy chùa nhỏ, chưa có thương hiệu, như chùa Bái Đính. Ngày xưa đếch ai biết chùa ấy ở đâu, thực tế bây giờ cái chùa cũ cũng chỉ bằng lỗ mũi, mình đi Bái Đính mấy lần còn chưa vào đó, chỉ vào cái showroom mới thôi.

Các chùa cổ, to, có tiếng từ xưa thì anh em đại gia lao vào dây máu ăn phần hơi khó. Như vụ Xuân Trường định đầu tư vào chùa Hương không ăn thua. Vì chùa ấy tiền vào như nước sẵn, ngu gì chia bánh cho thằng khác. Thế mà chùa Yên Tử vẫn có đại gia vào được mới tài, nhưng chắc tỷ lệ ăn chia giọt dầu không được mấy, chỉ là ăn theo ở những hạng mục mới thôi. Kiểu ấy chắc giống liên doanh, chứ không như Bái Đính.

PR, làm thương hiệu cho chùa, thì có nhiều bài. Như đi rước xá lợi Phật rình ràng từ Ấn Độ, Nepal gì đó về đặt, rồi xây tượng Phật to nhất ĐNA... hay mời sư nổi tiếng, có danh phận trong Giáo hội Phật giáo về làm trụ trì. Cũng như các công ty mời CEO có tiếng về làm thôi. Nếu xây được chùa to, quan hệ ngon, thì đứng ra tổ chức mấy cái hội nghị Phật giáo quốc tế, cũng như mấy khu du lịch đứng ra đăng cai thi hoa hậu thôi.

Chung quy cũng là bơm thổi, để câu view khách thập phương. Khách đến nhiều thì sẽ hốt được nhiều tiền.

Các công ty bình thường thì phải minh bạch tiền thu chi, rồi tính toán lợi nhuận, để đóng thuế. Còn đầu tư vào chùa thì chỉ có Phật mới kiểm toán nổi. Ai mà biết được tiền cúng dường thật là bao nhiêu? Mà chùa thì tất nhiên không phải đóng thuế.

Chùa thì có rất nhiều khoản thu. Dễ thấy nhất là tiền cúng dường, rồi đến tiền cúng giải hạn. Ngoài ra các sư cũng chạy show, đánh quả lẻ, như xem phong thủy, làm lễ cúng đám ma, động thổ, cất nóc, cúng bái các loại cho người dân. AE sư giờ tài lắm, rành tất cả kỳ môn độn giáp, phong thủy, cúng bái, tử vi, kinh dịch đến cho/bán chữ.

Mấy năm trước có vụ tranh chấp, 1 sư cô viên tịch mới lòi ra mấy cái sổ tiết kiệm mấy tỷ đồng. Thế là cháu của sư nhảy ra nhận thừa kế, chùa cũng đòi, với lý do là sư đã xuất gia thì không còn tiền riêng nữa, tiền ấy là của chùa. Vụ ấy sau chìm xuồng, chắc cưa đôi quá?!

Chùa còn có cửa kiếm nữa, là vì dân làm ăn VN ai mà chả là tù nhân dự khuyết, quan lại thì càng thế. Nên thành phần có tâm bất an càng ngày càng đông nên họ có nhu cầu cúng dường để an tâm. Anh em làm càng nhiều điều thất đức thì càng cúng dường nhiều.

Đầu tư vào chùa kiếm như thế, mà tiền ra vào lại tù mù, miễn thuế, khỏi thanh tra, kiểm toán, thì chùa đúng là thiên đường thuế không kém gì British Virgin Islands.

Vì sao Thục mất nước



Tam quốc dã sử bổ di phần thứ 47

Năm Viêm Hưng thứ Nhất tức 263, Hậu Chủ ngày ngày cùng với hoạn quan Hoàng Hạo vui chơi trong cung. Khương Duy dâng biểu về nước Ngụy khởi đại binh xâm lấn biên cương, Hậu chủ tiếp chiếu liền hỏi Hoàng Hạo:
- Nước Ngụy sai Chung Hội, Đặng Ngải đem đại quân chia đường vào cướp nước ta, làm thế nào bây giờ?
Hạo tâu rằng:
- Đây là Khương Duy muốn lập công, cho nên dâng biểu này, xin bệ hạ khoan tâm, chớ nên lo nghĩ. Tôi nghe ở trong thành có Tam Kim Tự có vị pháp sư Thích Thỉnh Vong biết trước việc hay dở, sao không đòi vào mà hỏi.
Hậu chủ nghe lời, bày đồ hương hoa, vàng nến ở hậu điện sắm sửa lễ vật rồi sai Hoàng Hạo đón pháp sư Thích Thỉnh Vong vào cung mời ngồi lên sập rồng còn mình thì sì sụp khấn vái đốt hương nghi ngút.
Pháp sư Thích Thỉnh Vong ngồi trên sập rồng phán rằng:
- Bệ hạ do ba mươi sáu kiếp trước  gây nhiều ác nghiệp gian dâm hãm hiếp, cướp của giết người nên bị các vong kiếp đó bám theo mà này làm vua không được yên. Nhưng bệ hạ chớ lo, ta thỉnh vong lên để xem đối chất giúp bệ hạ giái oán.
Vừa nói dứt câu thì thấy pháp sư Thích Thỉnh Vong bỗng dưng xõa tóc nhảy lên điện, múa may diễu lượn ở trong hương án vài chục vòng rồi thét lên rằng:
Ta là vong của tiền kiếp mà nhà ngươi đã hãm hại đây. Nhà ngươi kiếp trước dám đến nhà ta cướp của  giết người hãm hiếp xâm phạm đến trinh tiết vợ con ta nay ta đến để báo oán. Nay muốn giải oán cừu nhà ngươi hãy đến Tam Kim Tự, cúng giường bảy vạn tám ngàn lượng vàng, chín chín tám mốt triệu lượng bạc, rồi lại xuất kho hai mươi triệu xúc lụa, ba mươi triệu con ngựa, hai trăm triệu hộc lương dâng cúng thì mọi tai ương khắc qua.
Hậu chủ nghe thế thì bần thần nói:
- Ngộ nhỡ lễ vật chưa kịp chuyển đến thì sao?
Pháp sư nói:
- Ta có sẵn tài khoản mở tại ngân hàng địa phủ đây, nhà ngươi chỉ việc bắn ngân lượng vào đó là được. Ngân hàng địa phủ của ta chỉ nhân tiền dương gian, không nhận tiền âm. Nhớ nhé.
Hậu chủ lại nói:
- Ngộ nhỡ chưa xoay sở kịp lễ vật thì làm thế nào?
Pháp sư nói:
- Ta sẽ cho ngươi nợ, mỗi năm trả một ít. Nhưng cách đó thì phải có lãi suất.
Hậu chủ lại nói:
- Thế ngộ nhỡ vẫn không trả đủ thì sao?
Pháp sư nói:
- Nhà ngươi cùng quần thân hãy làm công quả cho nhà chùa bảy bảy bốn chính ngày thì sẽ tiêu bớt được nghiệp báo. Nhưng ta e cách đó tiêu nghiệp rất chậm.
Nói đến đây, Pháp sư Thích Thỉnh Vong ngã xuống đất, mê man nửa giờ mới tỉnh.
Hậu chủ mừng lắm, ban thưởng cho pháp sư rất hậu. Từ đó tin lời mà đem hết của cải vàng lụa châu báu trong ngân khố vào cùng dường cho Tam Kim Tự. Quân phí không còn một đồng dự trữ.
Chung Hội đem đại quân Ngụy đánh thẳng mặt Khương Duy. Đặng Ngải dùng kỳ binh quấn chăn lăn núi. Hậu Chủ cuống quýt gọi di động cho Thích Thỉnh Vong đại sư, định hỏi sao nghiệp vẫn chưa tiêu hết. Sau một loạt tiếng tút dài, có trả lời tự động:
"Thuê bao quý khách vừa gọi đang bận đi giao gà..."
________
Lời bàn: Vong là chìa khóa dẫn đến mọi thành công!






x

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2019

Tiễn Nguyên Trực, Huyền Đức đốn hạ cây cối

Nhắc lại Huyền Đức tiễn biệt Từ Thứ, dừng ngựa bên rừng, trông theo khóc mà nói:

- Nguyên Trực đi rồi, ta làm thế nào bây giờ?

Huyền Đức gạt nước mắt trông theo, lại bị rặng cây trước mặt che khuất bèn lấy roi trỏ vào rừng, nói:

- Ta muốn tỉa thưa hết mấy khóm cây chỗ này đi!

Các tướng hỏi vì cớ gì? Huyền Đức nói:

- Khóm cây này rậm rạp che khuất Nguyên Trực của ta.

Nói xong sai quân tướng chặt khóm cây trước mặt. Nào ngờ quân tướng làm việc quá hăng say, chỉ một loáng hạ phăng chặt nhẵn cả cánh rừng.

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2019

Chống Tony Buổi Sáng hay Phê phán cách truyền cảm hứng có tính chất thủ dâm tinh thần (Phần 6)



BẦY SÂM CẦM NHỎ VÀ HOT BOY, HOT GIRL VÀ HOT DOG
Dượng Tony đang bịa đặt

Nôm na Tony phê phán người ăn thịt chó. Chó là bạn, chó không phải là món ăn. Trước hết tôi – người viết – không ủng hộ ăn thịt chó cũng không lên án ăn thịt chó. Quan điểm của tôi chó mèo lợn gà bò trâu ngựa…. đều như nhau. Không con nào hơn con nào. Chúng sinh bình đẳng! Vạn vật đều đáng sống. 
Và chúng ta hãy xem lập luận của Tony về việc lên án tệ ăn thịt chó. Trong ngoặc kép tức là tôi trích nguyên văn.
- Luận cương thứ nhất: “Chó mèo là vật nuôi, là bạn bè. Không ai ăn thịt bạn hay có thể chơi với người ăn thịt bạn mình” (tr80). 
- Luận cương thứ hai: “Chó mèo là thú nuôi chứ đâu phải động vật nuôi dùng làm thực phẩm (!), tức là được sinh sản nhân tạo (!) và nuôi đại trà trong các trang trại” (tr81) (chú thích: dấu chấm than là tôi – người viết – muốn nhấn mạnh).
- Luận cương thứ ba: “Người châu Âu cũng từng ăn thịt chó, dẫn đến hành vi báo oán, tai họa dịch bệnh liên miên, có dịch chết mấy triệu người” (tr81). => muốn không bị tai họa thì đừng ăn thịt chó
- Luận cương thứ bốn: “Ai ăn thịt chó thì chó thấy nó sủa dữ dội, và trước sau gì cũng bị tai ương vì lời nguyền ngày xưa” (tr81). Ngụy biện lươn trạch và ngụy biện bằng chứng dối, 
- Luận điểm Luận cương thứ năm: Không ăn thịt chó vì “đó là văn minh của nhân loại, vì chỉ còn tàn dư của vài nước ăn thịt thú nuôi” (tr82). Bất khả tri
- Luận cương thứ sáu: Tóm gọn lại đoạn thứ hai trang 82: Không ăn thịt chó vì Trung Quốc man dợ ăn thịt chó “cái gì có chân đều ăn được trừ cái bàn”.
- Luận cương thứ bảy: (Tóm lược trang 83): Hàn Quốc ăn thịt chó chỉ vì Hàn Quốc nghèo đói nên ăn, giờ HQ giàu rồi nên không ăn nữa. => chỉ có nước ngèo mới ăn thịt chó. Lập luận cái mới, kết luận ẩu, 
- Luận cương thứ tám: “Thịt chó là Ngu ổn, gốc hàng ăn trộm nên mình ăn thịt chó tức là tiêu thụ hàng ăn cắp” (tr83). Bỏ thuốc độc
- Luận cương thứ chín: “Vì bọn trộm chó dùng bả độc Cyanua để đánh bả chó, chất độc này ngâm vào thịt chó, nên mình ăn vào sẽ bị tích tụ, lâu ngày sẽ bị ngây ngây dại dại”, không nên ăn thịt chó (tr83) Ngụy biện gièm pha (bỏ thuốc độc vào giếng)
- Luận cương thứ mười: Chó là con vật sống có nghĩa có tình, Không ăn thịt chó là “sống có nghĩa có tình, văn minh đẳng cấp, chân, thiện và mỹ” (tr84). Ngụy biện vòng vo hay điệp nguyên luận
10 luận điểm để tựu trung lại câu chuyện không ăn thịt chó. Trước hết tôi xin bày tỏ một lần nữa. Tôi không lên án hay phê phán bất kì ai ăn thịt chó hay không thích ăn thịt chó. Tôi chỉ xoay quanh câu chuyện Thánh Tony và đĩa thịt chó của anh ta.

* Luận cương thứ nhất: “Chó mèo là vật nuôi, là bạn bè. Không ai ăn thịt bạn hay có thể chơi với người ăn thịt bạn mình” (tr80).
Từ Luận cương này ta có thể suy rộng ra, cứ cái gì là vật nuôi, là bạn bè thì không nên ăn. 
Hiện tại trên thế giới có rất nhiều người có sở thích kì dị. Tôi còn nhớ đợt trước Kotex có video clip mấy cô tự tin khoe cá tính dắt lợn đi dạo, mấy cô gái ấy coi lợn là vật nuôi. Chỉ cần lên mạng Search một cái thôi cũng ra hàng loạt các vật nuôi từ thân thuộc đến không hình dung nổi: Có người nuôi chó mèo, cũng có người nuôi lợn gà, có người nuôi hổ báo, có người nuôi rắn rết, có người nuôi sâu bọ, có người nuôi chim muông, có người nuôi lừa ngựa, có người nuôi cá tôm,… Vậy cứ cái gì được con người coi là vật nuôi thì không nên ăn. => Chẳng có thứ thú nuôi nào con người ăn được cả khi từ chim trên trời, cá dưới nước thú chạy trên mặt đất đều có 1 ai đó trong 8 tỷ người nuôi làm vật nuôi. Vậy ta không nên ăn thịt? Chuyển qua ăn rau? Tức là mình ăn chay? )) Thánh Tony bảo 8 tỷ người chỉ ăn chay thôi sao) 
Đoạn ý kiến trên của tôi đang sử dụng hai thuật ngụy biện: Công kích cá nhân và nhét chữ vào mồm Tony. Giờ với hiểu biết nông cạn của mình tôi xin được phân tích theo chiều hướng khác (khoa học hơn).
Với lập luận: chó mèo là vật nuôi, là bạn bè. Không ai ăn thịt bàn hay có thể chơi với người ăn thịt bạn mình.
Luận cương này mắc lỗi ngụy biện khái quát hóa vội vã, ngụy biện thủ tiêu ngoại lệ, ngụy biện cảm tính (hay lợi dụng cảm xúc), 
Việc cho rằng cho mèo là bạn, đây là sự nhận định hêt sức cảm tính và thủ tiêu ngoại lệ. Xã hội có đến 8 tỷ người và nhiều người trong số đó không có thói quen yêu động vật nói chung và thậm chí không có hứng thú với chó mèo. Việc hành hạ động vật trên mạng có hàng loạt những clip để chứng minh. Việc lợi dụng cảm xúc thậm trí là cảm xúc số đông (ngụy biện số đông luôn đúng) là cách thức mà Thánh Tony đã sử dụng ở đây còn có thể rút ra thêm một ý nghĩa nữa: Cái gì không phải là bạn thì được phép ăn. 
Vậy khi tôi không coi cái gì đó là bạn, tôi ăn thịt được hem? Rõ ràng là không thể rồi. 
Thánh Tony ở đây còn vướng thêm một lỗi ngụy biện nữa là “ngụy biện mặc cảm”. Xét ở góc độ đạo đức thông thường của xã hội. Việc hại bạn bè (chưa nói đến xâm phạm đến quyền sống - ăn thịt bạn) là điều vô cùng đáng lên án. Thánh Tony đã lợi dụng đặc điểm này để đưa đến kết luận ăn thịt chó là điều đáng lên án, vậy để tránh bị lên án, đừng ăn thịt chó nữa.
Nếu phân tích tiếp, Thánh Tony lại vướng vào lỗi kết luận ẩu khi chẳng đưa ra bất kì một minh chứng nào cho rằng chó là bạn trước đó và đoạn sau đó.
Với lập luận “vì đối với người phương Tây, chó mèo là thú nuôi, là bạn bè” để đưa ra kết luận “Không ai ăn thịt bạn hay có thể chơi với người ăn thịt bạn mình” thì là ngụy biện khái quát hóa vội vã. Thánh Tony ở chỗ này đã sử dụng nhãn quan “lấy châu Âu làm trung tâm” (Eurocentrism) để kết luận cho toàn bộ quan niệm của thế giới về vấn đề này. Đây là thứ quan điểm hết sức độc hại của mấy anh thực dân tuyên truyền khai hóa văn minh cách đây mấy trăm năm. 
Kết luận: Thánh Tony cuồng tây cố công bảo vệ “người bạn của phương Tây” tức là con chó ở Việt Nam là hoàn toàn có tính chất thủ dâm tinh thần khi luận điểm đưa ra đầy lỗi logic.
- Luận cương thứ hai: “Chó mèo là thú nuôi chứ đâu phải động vật nuôi dùng làm thực phẩm (!), tức là được sinh sản nhân tạo (!) và nuôi đại trà trong các trang trại” (tr81) (chú thích: dấu chấm than là tôi – người viết – muốn nhấn mạnh).
Từ luận điểm này của Thánh Tony ta có thể hiểu như sau: Ăn thịt động vật = Sinh sản nhân tạo + nuôi đại trà trong trang trại.
Phía trên ta đã bàn Thánh Tony khẳng định chó mèo là “vật nuôi” giờ Thánh Tony lại tiếp tục sử dụng thuật ngữ “thú nuôi”. Vậy ở đây Vật nuôi với thú nuôi của Thánh Tony được hiểu đồng nhất với nhau. Nhân loại hàng ngàn năm qua đã thuần hóa được một số động vật hoang dã đem về nuôi và tuyệt nhiên không chỉ có loài chó. Vậy tại sao cùng là vật nuôi mà ta được ăn thịt lợn/thịt trâu/… mà lại không được ăn thịt chó? 
Bởi chó không được sinh sản nhân tạo? Thánh Tony đưa ra một khái niệm sinh sản nhân tạo một cách rất tối nghĩa. Theo cách hiểu thông thường, sinh sản nhân tạo là cách thức thúc đẩy quá trình sinh sản của động vật dưới sự tác động của bàn tay con người (qua việc can thiệp vào chu kì động dục/sinh sản của động vật bằng cách thức nào đó). Trừ những đơn vị cung cấp thực phẩm có quy mô lớn còn đa phần các hộ gia đình nuôi trâu bò lợn gà không hề can thiệp vào quá trình sinh sản của động vật nuôi lấy thịt. Bên cạnh đó có nhiều người hiện nay nuôi chó mèo người ta đã cố tình can thiệp vào quá trình sinh sản của chúng nhằm bắt chúng đẻ nhanh hơn (vì lí do gì thì cũng không cần bàn tới). Vậy cái luận điểm này của Thánh Tony rơi vào ngụy biện kết luận ẩu. 
Bởi chúng được nuôi đại trà trong các trang trại? Thánh Tony ở nhà viết xàm quen thói nên không biết rằng thiên hạ bây giờ nhiều nơi người ta nuôi chó theo trang trại (chỉ khác giống chó nào được nuôi theo trang trại. Phú quốc là một ví dụ về nuôi chó theo trang trại). Vậy cái việc cho rằng chó không được nuôi theo trang trại nên không được ăn thì là một kiểu ngụy biện kết luận siêu ẩu, chẳng đưa ra bằng chứng nào khẳng định điều này hết.
Cuối cùng cái luận điểm số 2 này của Thánh Tony ta còn có thể viết thành mệnh đề như sau:
Động vật sinh sản nhân tạo và nuôi trong trang trại thì được ăn thịt
Chó mèo không nuôi trong trang trại và không sinh sản nhân tạo
Nên không được ăn thịt chó mèo.
Đây chính là lối tư duy của thuật ngụy biện Hoán vị dối. Không thể xem xét kiểu cái gì nuôi theo trang trại và sinh sản nhân tạo thì được phép đánh chén được. 
Thánh Tony còn bịa đặt tiếp điều gì?

- Luận cương thứ ba: “Người châu Âu cũng từng ăn thịt chó, dẫn đến hành vi báo oán, tai họa dịch bệnh liên miên, có dịch chết mấy triệu người” (tr81). => muốn không bị tai họa thì đừng ăn thịt chó
Không cần phải nói nhiều thì ở đây ai cũng hiểu đây là một dạng ngụy biện đe dọa kiểu gièm pha, kết luận ẩu, nhân quả sai,…
Người Châu Âu từng ăn thịt chó dẫn đến hành vi báo oán, tai họa dịch bệnh,… Tony không hề có một sự chứng minh nào cho luận điểm đó của mình. Nhất là khi nói có dịch chết đến mấy triệu người. Cái thuật ngụy biện gièm pha bộc lộ một cách rất thô lỗ ở đây.
Trong quá khứ quả thật Châu Âu có những đại dịch chết đến hàng triệu người nhưng những bằng chứng khoa học đều đã tìm ra nguyên nhân và chẳng nguyên nhân nào xuất phát từ con chó cả. Các huyền thoại của người Châu Âu khác với huyền thoại của người Châu Á. Tai ương mà họ trải qua lâu dần trở thành huyền thoại. Ví dụ, trong Kinh Tân ước, người ta nhắc đên trong sách Khải Huyền chi tiết Châu Chấu bay hàng đàn, chuột bọ ếch nhái bò lổm ngổm mặt đất thì đấy chính là nguyên nhân của một số đại nạn đói kém mà người Châu Âu phải chịu: Châu Chấu làm mất mùa thường xuyên diễn ra hay dịch Hạch từ chuột khiến người Châu Âu thế kỉ XIV chết đến hơn 1/3 dân số. Sử sách tuyệt nhiên không ghi lại trường hợp nào bùng nổ đại dịch từ thịt chó bao giờ cả!?
Tóm lại đại dịch ở Châu Âu nếu có xảy ra cũng chẳng phải do con chó. Bịa đặt vu vạ cho con cún như thế thật là quá quắt. Mà thế nào được gọi là “hành vi báo oán”? ý Tony là Hồn ma chó báo oán sao? Một ý tưởng không tồi cho các nhà làm phim Hu-li-út ))
- Luận cương thứ bốn: “Ai ăn thịt chó thì chó thấy nó sủa dữ dội, và trước sau gì cũng bị tai ương vì lời nguyền ngày xưa” (tr81). 
Hiện nay, việc ăn thịt chó vẫn là một điều diễn ra rất phổ biến. Người ta nuôi chó và ăn thịt chó đồng thời với nhau. Việc ăn thịt chó với việc chó sủa không hề liên quan gì đến nhau. Thánh Tony đã tiếp tục sử dụng lối ngụy biện gièm pha, kết luận ẩu, nhân quả sai.
Tiếp tục khẳng định, Thánh Tony có thói gièm pha kinh điển của những kẻ phản khoa học. Nếu quả thật ăn thịt chó dễ bị tai ương thì chắc chắn người ta đã từ bỏ chúng từ lâu. Hãy thử nghĩ xem, vì sao Thánh Tony lại bôi nhọ con chó đến thế? Phải chăng vào những ngày cần thịt chó để giải đen Thánh Tony đi khắp các ngõ ngách ở HN để lùng thịt chó mà không được. Vậy nên giờ mới thù hằn con chó? Biết đâu đấy! 
Việc người ta sử dụng thịt chó như là “cách thức giải đen”. Xét góc độ khoa học thì quan niệm này chẳng có cơ sở để chứng minh, nhưng xét dưới góc độ “Tâm lý” thì có thể lắm. Tâm lý Á Đông ta, từ xưa đến nay, để thể hiện sự trọng vọng với người khác thì trước hết cần phải sử dụng các cách thức biểu hiện khác biệt (thậm trí là đối ngược) lại với cái vốn có hàng ngày. Ví dụ việc đón khách quý đến đột xuất của TQ thì người TQ có tục đi giày dép trái hay đầu tóc không gọn gàng, quần áo có chút lôi thôi,… để biểu thị mừng quá không kịp chuẩn bị. Người Việt Nam ta thì biểu thị trong bữa ăn, giết trâu mổ bò là thường rồi giờ cần phải đặc sắc hơn. Ấy con chó trở thành cái thứ đặc sắc nhất vì nó xuất hiện mọi nơi nhưng lại ít được đánh chén. Có con Chó vào làm mồi, ngồi với nhau bày tỏ nỗi lòng, nâng chén rượu chúc nhau, nỗi phiền muộn bỗng dưng vơi đi quá nửa. Đấy chính là giải đen chứ còn là gì nữa. 
Thánh Tony nói đến “lời nguyên ngày xưa” và quả thật Thánh chưa đưa ra được cái lời nguyền ngày xưa ấy xuất phát từ đâu, khi nào, do đâu mà có,… Ấy chính là kiểu lập lờ đánh lận con đen điển hình của tư duy ngụy biện.
(6 luận cương nữa của Thánh Tony xin phân tích tiếp ở bài sau)

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019

Chuyện Vu chân sư

Một hôm Tôn Sách tổ chức ăn nhậu trên lầu, bá quan văn võ tề tựu đông đủ. Sách đang hưng phấn kể về chiến tích chăn rau, ý lộn, chiến tích trận mạc thì bỗng thấy bá quan văn võ không thèm nghe nữa mà cứ gỉ tai nhau rồi liếc mắt ra ngoài, sau đó thì ùn ùn bỏ Sách kéo hết xuống lầu.
Sách ra lan can ngó xuống thì thấy một vị chân sư mình cao 6 thước, đầu trọc, mắt xếch, khoác cà sa, tay cầm gậy tích trượng đang đứng đó. Ấy chính là Vu Cát pháp hiệu Thích Làm Tiền vốn tu tại am PK.
Chung quanh man dân kéo đến đầy đường lấp lối quỳ mọp khấn vái xin chân sư dâng sao giải hạn.
Sách thấy thế đùng đùng nổi giận, thét tả hữu trói vị chân sư Thích Làm Tiền lại.
Chưa biết sự thể còn thế nào cứ ra cầu Tứ Khổ mà hỏi.

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

Điển tích: Tứ Cố Cầu Sư


Khai bút đầu năm hồi Tam quốc chế

Bản rút gọn:

Nhắc lại Thừa tướng nước Thục là Khổng Minh ăn ít, làm nhiều, lao tâm khổ tứ mà đổ bệnh, cũng là đến cái tuổi 49, 53 nên chúng tướng rất lo lắng. Khương Duy tâu rằng:
- Sao thừa tướng không dùng phép dâng sao giải hạn ?!
Khổng Minh nói:
- Ta vốn biết phép ấy nhưng trước dùng nhiều quá giờ hết linh.
Khương Duy nói:
- Tôi biết xứ Man có cái cầu Phò Khổ, cạnh cầu ấy có cái am tên là Phúc Khánh, trong am ấy có vị chân sư tên là Thích Làm Tiền. Sao Thừa tướng không cho người gọi về làm phép dâng sao giải hạn?
Khổng Minh nói:
- Nếu là bậc chân sư thì ta hãy nên đi cầu cho phải phép.
Thế là Khổng Minh dẫn Khương, Ngụy đến cầu Phò Khổ am Phúc Khánh để cầu sư.
Đến nơi nhưng không gặp được chân sư Thích Làm Tiền bởi chân sư đã đi cứu khốn phò nguy, dâng sao giải hạn, cầu an nơi khác. Khổng Minh đành phải ra về.
Lần kế Khổng Minh lại đến thì chân sư Thích Làm Tiền đang bế quan trai giới nhằm ngày mồng 8 khai quan dâng sao giải hạn cho man dân nên cũng đành phải ra về không gặp được.
Rồi lần nữa Khổng Minh đến thì giật mình thấy người ở đâu kéo đến đầy đường lấp lối. Ngỡ quân Ngụy đặt phục binh ngửa mặt lên trời than:
- Số ta đến chết ở đây mất thôi.
Nhưng trông ra thì thấy toàn là man dân địa phương kéo đến nhằm tham dự lễ dâng sao giải hạn Phúc Khánh am. Quang cảnh thật kì dị, man dân kẻ đứng người quỳ, kẻ nằm phủ phục vái lấy vái, hương khói nghi ngút để những mong được đổi vận. Khổng Minh bị đám man dân chen lấn xô đẩy đến đầu váng mắt hoa ngã vật ra đất ngất lịm. Tả hữu vội đem về gò Ngũ Trượng cấp cứu.
Sau thời gian tĩnh dưỡng bệnh tình thuyên giảm, Khổng Minh lại gắng gượng đến Phúc Khánh am cầu sư dâng sao giải hạn. Lần này thì gặp chân sư trụ trì Thích Làm Tiền. Khi dâng lễ vật lên chân sư trụ trì thì bị vị chân sư nổi giận đuổi về. Ra đến cổng tam quan nhìn nên tấm bảng yết thì thấy câu

thơ:
Muốn thoát năm ba
Thì phải cầu ta
Cầu gì được nấy
Miễn có đô la
Thì ra lễ vật của Khổng Minh thiếu đi khoản đô la nên bị đuổi về, Khổng Minh thở dài:
- Âu sống chết có số, không sao mà nhương trừ được.
Đêm ấy Khổng Minh qua đời tại gò Ngũ Trượng.
Thật chính là:
Đâu phải sống chết là do số
Do tiền không có để dâng sao
Chưa biết sau khi Khổng Minh qua đời thì nhà Thục Hán sẽ thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ
____________________

Bản full:

Nhắc lại Thừa tướng nước Thục là Khổng Minh ăn ít, làm nhiều, lao tâm khổ tứ mà đổ bệnh, cũng là đến cái tuổi 49,53 nên chúng tướng rất lo lắng. Khương Duy tâu rằng:
- Sao thừa tướng không dùng phép dâng sao giải hạn ?!
Khổng Minh nói:
- Ta vốn biết phép ấy nhưng trước dùng nhiều quá giờ hết linh.
Khương Duy nói:
- Tôi biết xứ Man có cái cầu Phò Khổ, cạnh cầu ấy có cái am tên là Phúc Khánh, trong am ấy có vị chân sư tên là Thích Làm Tiền. Sao Thừa tướng không cho người gọi về làm phép dâng sao giải hạn?
Khổng Minh nói:
- Nếu là bậc chân sư thì ta hãy nên đi cầu cho phải phép.
Thế là Khổng Minh dẫn Khương, Ngụy đến cầu Phò Khổ am Phúc Khánh để cầu sư.
Đi hết một ngày đường thì đến nơi, hỏi tiểu giữ am thì biết vị chân sư đã đi dâng sao giải hạn ở nơi khác chưa về.
Vừa về gò ngũ trượng được vài ngày, Khổng Minh dò hỏi thấy Thích Làm Tiền đã về liền xăm xắn lên đường. Đến Am thì được biết, tuy rằng chân sư Thích Làm Tiền đã về nhưng chân sư đang trai giới để ngày 8 làm lễ dâng sao giải hạn, cầu an cho dân Man không thể tiếp khách.
Khổng Minh thở dài ra về đợi đến ngày mồng 8 thì lại chuẩn bị ngựa xe cùng Khương Duy, Ngụy Diên lên đường. Ngụy Diên lần này tức giận mà nói:
- Tôi chắc kẻ ấy chỉ được cái hư danh nên cố ý tránh mặt thừa tướng đấy thôi.
Khổng Minh nói:
- Bậc hiền nhân, chân tu không phải dễ muốn gặp là được. Ta cứ gặp một lần xem sao rồi hãy tính.
Ngụy Diên có ý không bằng lòng nói:
- Thừa tướng cứ ở nhà, để tôi đem quân lính đến trói lại đem về gặp thừa tướng.
Khổng Minh gắt:
- Ngươi sao dám vô lễ vậy!
Ngụy Diên đành yên lặng cùng Khổng Minh lên đường. Đến cầu Phò Khổ thì ba người không sao vô được am bởi xung quanh am đám dân Man khắp nơi kéo đến đầy đường lấp lối ken đặc cả.
Nhìn cảnh dân man sì sụp chổng mông lầm rầm chắp tay khấn vái như bổ củi tràn ra khắp các bãi đất xung quanh am thì chán nản mà chờ đợi. Thế nhưng đợi từ giờ Ngọ đến giờ Tý mà vẫn không tiến đến được cổng tam quan của am. Khổng Minh vốn mang bệnh tật trong mình chưa đỡ, nay lại phải đợi ở chỗ đông đúc, ồn ào bị chen lấn xô đẩy suốt gần một ngày như thế thì đầu váng mắt hoa ngã lăn ra đất. Bọn Khương Duy, Ngụy Diên vỗi vã đến cứu hồi lâu mới tỉnh. Đến quá nửa đêm mà dân man vẫn khắp mọi ngả tiếp tục đổ về chổng mông vái vọng Khổng Minh đành cùng thuộc hạ về Ngũ Trượng Nguyên.
Từ bấy giờ Khổng Minh ngày một ốm nặng, độ mấy mươi ngày sau mới tạm hồi phục một hai phần liền ngay lập tức cho người thắng xe, dắt ngựa đến am Phúc Khánh cầu sư.
Diên bực mình nói:
- Thừa tướng nghe tôi thì đã không bị bệnh nặng hơn như vừa rồi. Giờ hãy lại để tôi dân lính đi tiền trạm mở đường, hễ thấy tên man dân nào cản trở thì tôi cho lính đuổi đi.
Khổng Minh đồng ý. Thế là Ngụy Diên hùng hổ dẫn hơn trăm quân kị phi đi trước. Ấy vậy mà đến am thì thấy chỉ có mấy chú tiểu quét cổng chứ không có man dân đông đúc như trước. Khổng Minh do bệnh tật lâu ngày vừa mới đỡ nên không dám đi nhanh, đến khi trời ngả về tây mới tới am Phúc Khánh. Lần này vào yết kiến vị chân sư Thích Làm Tiền rất dễ dàng.
Khổng Minh cho người mang thiệp cầu kiến vào trước. Trong thiệp đại ý như sau:
- Tôi là Lượng, vốn chịu ơn thác cô của Lưu Tiên Chủ mà nguyện dốc sức khôi phục nhà Hán. Nay chẳng may lâm bệnh nặng, tướng tinh sắp đổ, tuổi thọ sắp tàn. Lượng tôi đến đây yết kiến những mong các vị chân sư Phúc Khánh am rủ lòng thương lập đàn dâng sao giải hạn xin cho ít tuổi trời nữa để Lượng tôi trên báo hoàng ân, dưới cứu lê dân.

Thiệp báo đưa vào ít lâu, Chân sư Thích Làm Tiền cho người ra đón vào nhà khách. Sau tuần trà nước, Khổng Minh nói lại ý định thì chân sư Thích Làm Tiền cứ chỉ cười không nói gì. Khổng Minh gặng hỏi mãi cũng không được thì thấy chú tiểu dâng lên một tập giấy. Mảnh giấy đó đề mấy chữ:
Muốn thoát năm ba
Thì phải cầu ta
Cầu gì được nấy
Miễn có đô la

Khổng Minh không hiểu đô la là gì lại gặng hỏi thì Khương Duy nói nhỏ vào tai. Khổng Minh ồ lên một tiếng rồi chuẩn bị ít ngân lượng dâng nên cho chân sư Thích Làm Tiền. Nào ngờ đâu vừa xem xong thì Thích Làm Tiền đùng đùng nổi giận, bỏ vào nhà trong, sai chủ tiểu đuổi Khổng Minh về. Thì ra số ngân lượng Khổng Minh đưa vị chân sư quá ư ít ỏi, chân sư Thích Làm Tiền cảm giác như bị bạc đãi nên nhất định không chịu làm lễ dâng sao giải hạn. Ngặt nỗi, Khổng Minh cả đời chưa tơ hào của dân của cấp dưới một đồng mà bổng lộc triều đình thì tính theo phẩy công chức lấy đâu ra lắm của mà cung tiến cho chân sư.
Khổng Minh đành ngửa mặt lên trời mà than rằng:
- Quả là sống chết có số, không làm sao mà nhương trừ được!
Nói rồi kêu lên mấy tiếng rồi ngã vật ra, tả hữu phải đem về gò Ngũ Trượng cứu chữa nhưng không kịp. Đêm hôm đó, Khổng Minh qua đời hưởng thọ 53 tuổi.
Thật chính là:
Đâu phải sống chết là do số
Do tiền không có để dâng sao
Chưa biết sau khi Khổng Minh qua đời thì nhà Thục Hán sẽ thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ

Hơn 2000 năm sau CN, xứ Đông Lào cũng học tập cổ nhân mà...
https://laodong.vn/photo/phat-tu-thap-phuong-do-ve-chua-phuc-khanh-dang-ki-dang-sao-giai-han-656844.ldo
https://laodong.vn/photo/ngoi-tran-duong-du-le-dang-sao-giai-han-chua-phuc-khanh-656946.ldo
https://www.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/nguoi-ha-noi-tap-nap-den-chua-phuc-khanh-dang-ky-giai-sao-xau-dau-nam-c46a1027247.html

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

Nhận xiêm y, Ý gượng cười đãi sứ giả, Mải lo nghĩ thừa tướng nặng đầu một bên.

Tam Quốc dã sử phần 46
Nhắc lại, Tư Mã Ý bị Khổng Minh coi khinh mà tặng xiêm y đàn bà thì trong bụng lấy làm căm tức lắm nhưng vẫn cố gượng cười rồi đãi sứ giả nhà Thục rất hậu. Trong tiệc, Ý dò hỏi chuyện ăn ngủ sức khỏe công việc của Khổng Minh ra sao thì sứ giả thưa:
- Thừa tướng tôi thức khuya dậy sớm; làm việc không quản ngày đêm, không việc gì là không đến tay. Từ việc bé xíu như quan xã lỡ tay phá cái chòi vịt, cơ sở lỡ phạt dân vì buôn thúng bán mẹt quên xin giấy phép. Từ việc cháu bé con nhà dân táo bón thầy lang không chịu chữa, người chết không đúng cách mà chưa thể xác nhận "đã chết", thầy đồ vì thương học trò nam gọi lên phòng cho "mút kẹo", thương học trò nữ cơ nhỡ mà thuê nhà cho ở cùng cho đến việc to lớn quốc gia đại sự khác nữa. Nói ra thừa tướng tôi không việc gì là không nhúng tay. Vì vất vả suốt ngày nên ngài đầu lúc nào cũng nặng về một bên.
Ý quay sang bảo với tả hữu:
- Khổng Minh tham công tiếc việc làm nhiều lo lắm đến nặng cả đầu sang một bên như thế thì chẳng thể thọ lâu được.
Sứ giả từ về, đến gò Ngũ Trượng ra mắt Khổng Minh, thuật lại việc Tư Mã Ý chịu nhận khăn áo đàn bà, và các lời hỏi han. Khổng Minh than rằng:
- Ý thực là biết ta!
Bọn bộ hạ khuyên can Khổng Minh nên bớt việc để có thời gian lo cho bản thân. Khổng Minh khóc mà nói:
- Ta nào có muốn thế đâu. Đáng lẽ việc ỉa đái thì nên cho thầy thuốc lo, việc ma chay thì để thầy cúng quản, việc dạy dỗ thì để thầy đồ liệu, việc hình pháp thì tùy nghi các cấp có thẩm quyền. Nhưng vì nước nhà toàn một phường giá áo túi cơm, làm ít ăn nhiều, sách nhiễu dân chúng thế nên ta phải một công khó nhọc bấy lâu nay.
Mọi người nghe thấy thế phần thì xấu hổ phần thì xót thương.
(viết tạm như thế)

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2018

Vi phạm pháp luật, Tháo gặp vạ trên đường lánh nạn

Tam Quốc dã sử hồi 45

Tháo thua to ở Xích bích, phải chạy thục mạng về phía Di Lăng đến rừng Ô Lâm um tùm. Tháo chỏ vào cười
- Lũ Du Lượng thật kém trí, cứ phục 1 đội bắn tốc độ ở đây có phải hốt bạc ko? Nãy chúng ta phóng ngựa toàn vượt tốc độ nhà nước quy định cả.
Còn đang cười thì bỗng một hồi còi vang lên, một viên tướng giáp vàng bào trắng nhảy ra chặn đường quát:
- Đề nghị tấp ngựa vào lề đường, xuất trình giấy tờ.
Thì ra là Triệu Vân núp nùm bắn tốc độ.
Tháo định cãi nhưng Triệu Vân đã show ngay hình ảnh phạm lỗi và nói:
- Các ngươi mắc hai lỗi, chạy vượt quá tốc độ và có dấu hiệu đua ngựa trái phép. Nay ta tạm tha cho lỗi sau. Mau kí vô đây lên quốc khố nộp phạt rồi quay lại đây lấy giấy tờ.
Từ Hoảng, Trương Cáp cũng lăn vô nằn nì xin mãi mà không được. Thế là cả bọn ngậm ngùi ôm giấy phạt đi tiếp.
Đến hang Hồ Lô thuộc Nam Di Lăng, Tháo cho đám tàn quân ngồi đào bếp, chặt cây, nướng thịt, thổi cơm. Quân tướng đang lục tục nấu nướng thì Tháo lại bật cười và nói:
- Ta lại cười đám Du lượng vô mưu, nếu như cứ cho một đội phục sẵn ở đây mà phạt về tội phá hoại môi trường, di tích cảnh quan thì cũng hốt được một mớ nữa.
Tiếng cười chưa Dứt Thì bỗng có một tướng nhảy ra quát:
- Tất cả ngồi im một chỗ, cấm không được động đậy để cho lực lượng chức năng lập biên bản hiện trường.
Thì ra đó là Trương Phi, Phi biết thế nào quân Tào cũng đến đây đào đất nấu cơm chặt cây phá rừng nên đã ngầm phục sẵn. Quả nhiên quân Tháo đến và tình hình diễn ra đúng như tiên liệu.
Khi lập biên bản xong thì đám Trương Liêu, Hứa Chữ Từ hoảng lại nhảy ra xin xỏ nhưng Phi nhất định không cho. Bọn chúng đành phải hối lộ Trương Phi hết chỗ nồi niêu xoong chảo với vài chục con ngựa Phi mới cho đi.
Đi đến một ngã ba, Tháo cho quần thám thính thì được biết môt đường bằng phẳng dễ đi tịnh không một bóng người. Một đường gập ghềnh khó đi ấy là đường nhỏ Hoa Dung thì lại thấy nhiều chỗ khói bốc lên. Tháo nói:
- Rút kinh nghiệm hư hư thực thực vừa nãy, ta hãy cứ đi vô đường Hoa Dung.
Chúng tướng nói:
- Đường ấy đang tu sửa, e rằng không được đi.
Tháo nói:
- Xem ra thì chủ đầu tư hết vốn bỏ hoang đã lâu rồi. Chúng ta hãy cứ tiến vào.
Thế là đám tàn quân của Tháo tiến vào Hoa Dung. Bằng rừng lấp đất, đốn cây mở đường. Đi được mươi dặm Tháo lại bật cười nói:
- Đám Du Lượng xem ra vẫn là hạng xoàng. Cứ như ta đặt mội đội ở đây mà khép tội xâm hại công trình trọng điểm quốc gia hay hủy hoại tài sản của người khác thì có mà hốt bạc.
Tháo vừa dứt lời thì một tướng mặt đỏ râu dài cầm Thanh Long đao dân 500 quân tinh tráng ra chặn đường nói:
- Thừa tướng, tôi đợi ngài đã lâu.
Đó chính là
Khinh người ngu dốt buông lời châm biếm
Nụ cười chưa dứt trái đắng đã kề môi
Chưa biết tướng đó là ai, xin xem hồi sau sẽ rõ

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2018

Tam quốc dã sử bổ di phần 44

Nhắc lại, Huyền Đức bị thua to ở Bái Thành phải một mình một ngựa nhằm hướng tây mà chạy mới thoát khỏi truy binh của Lã Bố. Đi mãi đến trời ngả về tây thì không may lạc mất đường. Người ngựa mệt lả, Huyền Đức tìm nhà dân xin cơm thì vừa may gặp được. Có chàng thanh niên ra lạy chào. Biết đến tiếng quan mục Dự Châu, chàng thanh niên vui mừng vội mời vào nhà, qua tuần trà nước thì được biết là Lưu An vốn con nhà săn bắn.
Lưu An lưu Huyền Đức lại nhà rồi xuống bếp chuẩn bị mâm cơm. Huyền Đức đói đã lâu ăn uống ngon lành. Sáng ra chuẩn bị lấy ngựa đi thì thấy có người đàn bà chết ở sau nhà, thịt cánh tay bị cắt hết, giật mình hỏi ra thì Lưu An mếu máo nói:
- Muốn dâng sứ quân món thịt lợn rừng hun khói nhưng ngặt nỗi triều đình vừa ban hành luật động vật quyền, cấm giết hại ngược đãi động vật đầu năm nay nên tôi không dám, đành giết vợ để đãi sứ quân.
Huyền Đức thương xót không biết ngần nào ngửa mặt lên trời than:
- Đến quyền làm người còn chưa lo xong mà đi lo cho quyền con vật. Tháo nó tác ác khinh vua lừa dân. Ta thề phải giết nó.

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2018

Harry Potter và cuộc thi Tam Pháp thuật (Phần 3.2)

Phần 3: Cuộc gặp gỡ giữa bộ trưởng Cornelius và Dumbledore (2)

 
Quán Cái vạc lủng
Quán Cái Vạc Lủng nằm trên đại lộ vô cùng sầm uất, là một trong ít địa điểm chào đón cả dân Muggle lẫn pháp sư, lại là giới phù thủy nếu không sử dụng bột Floo, khóa cảng, thuật đổn thộ hay những gì đại loại như thế đến Hẻm Xéo thì buộc phải đi qua đây. Tưởng chừng đây không phải là nơi thích hợp cho những cuộc gặp gỡ bí mật nhưng đối với Dumbledore, chính tính công khai cởi mở của nó lại giúp ích cho ông rất nhiều trong việc chọn địa điểm nói chuyện với ngài bộ trưởng bộ Pháp thuật. Dĩ nhiên, cần thêm một vài mẹo nhỏ nữa mới có thể đảm bảo tránh để lộ thông tin. Với  tư cách là những pháp sư đứng đầu cả nước người ta Thật khó để người ta hình dung chuyện thầy hiệu trưởng Dumbledore lẫn bộ trưởng bộ Pháp thuật Cornelius phải thay đổi hình dạng của mình để đi làm những việc một việc dù cho đó là việc vô cùng đáng xấu hổ đi chăng nữa.
Cornelius bước vào quán với dung mạo của một người đàn ông gần năm mươi, cao khoảng năm thước, bụng phệ, đầu hói, trên gương mặt phúng phính là cặp mắt ti hí với cái cằm chễ mấy ngấn cùng cái cổ ngắn ngủn, thật chẳng còn ai nhận ra được đây chính là ngài bộ trưởng đầy quyền uy nữa.
Lại gần chiếc bàn được cũ kĩ đến mức tưởng chừng nó được nhặt nhạnh từ mấy căn nhà gỗ có từ mấy trăm năm trước rồi đem về ghép lại thành bàn, ngồi xuống và chờ đợi. Lão Tom chủ quán có thân hình cao giỏng, mặt quắt và bộ nhá rụng chỉ còn mấy cái lại gần cật giọng nói thều thào như sắp đứt hơi. Phải cố gắng lắm Cornelius mới nghe được xem lão nói gì:
- Chào mừng quý khách đã ghé tiệm Cái vạc lủng! Quý khách dùng gì?
- Ông chủ cho tôi thứ đồ uống nào đó nổi tiếng nhất tiệm nhé - Cornelius nói
- Ý ngài là một cốc Gamp's Old Gregarious!? - Tom nói
Cornelius trả lời lão chủ quán cho qua chuyện. Lát sau lão ta quay lại trên tay cầm một vại bia vàng và đặt xuống. Miệng tiếp tục thều thào:
- Đầy mời quý khách! Chắc hẳn ngài mới đến tiệm chúng tôi lần đầu. Trông ra thì ngài hình như ở mấy quốc gia Châu Á đến đây du lịch. Quả chúng tôi rất ít khi tiếp đón du khách Châu Á.
Cornelius gật đầu và hơi chau mày nghĩ thầm:
- Lão ta cố tình bắt chuyện với mình. Hay là đã nhận ra ta rồi!? Mình có sai lầm khi đến tiệm này không nhỉ!?
Ông chưa kịp trả lời thì bỗng phía sau vang lên một giọng nói eo éo của một người phụ nữ:
- Anh đây rồi! Sao anh ra ngoài mà chẳng báo em!? May mà anh có mang theo điện thoại nếu không thì em chịu chết. Thôi đừng giận em nữa mà.
Lão Tom và Cornelius quay lại thì thấy đó là một người phụ nữ trẻ độ tuổi xấp xỉ 30, cô ta có thân hình chuẩn mẫu, nước da trắng trẻo, trên khuôn mặt trái xoan nở ra nụ cười ra chiều dâm đãng đi lại, choàng tay qua người Cornelius rồi hôn đến chụt một cái vào má ông. Hơi bất ngờ trước tình huống ấy, định đẩy cô ả ra nhưng Cornelius chợt nhớ mục đích mình đến đây. Ông nói:
- Em ngồi xuống đi đã, chỗ này đông người đừng làm thế.
Lão Tom vẫn có ý dò la xem vị khách mới đến lần đầu này là ai nhưng giờ đoán đó là cặp tình nhân vụng trộm nào đó nghĩ thầm: thằng già con trẻ thế nay chắc lại du lịch cặp bồ đây. Thôi ta cứ để họ tự nhiên.
Nghĩ xong lão hỏi cô gái dùng gì và lập tức đem đến cho cô ả thứ mà cô ta cần. Xong đâu đấy lão quay sang đón tiếp một đoàn khách đông đúc từ bên ngoài vào quán. Không khí trong quán bống trở lên ồn ào náo nhiệt hẳn lên. Lão Tom không còn đủ thời gian để xem xét về cặp tình nhân người Châu Á vừa vào quán khi nãy nữa.
Để lão chủ quán rời đi một lúc, Cornelius nói:
- Chà, sao ngài có thể nhận ra tôi với bộ dạng này!?  Vả nữa tôi không nghĩ ngài hiệu trưởng đáng kính lại hóa thân thành một quý cô như này đâu đấy.
Dumbledore nói:
- Quả không khó khăn lắm với sự hiểu nhau của chúng ta. Nhưng tôi cũng bất ngờ trước diện mạo này của ngài. Ý tưởng nào mà khiến ngài lại chọn bộ dạng phúng phính của mấy anh quan chức Á Châu vậy!?
Cả hai nói đến đây cùng bật ra một cười thành tiếng.
Liếc nhìn xung quanh, thấy không có ai chú ý đến mình, Cornelius nói:
- Thôi, chúng ta hay quay lại việc chính, chắc hẳn ngài hiệu trưởng không chỉ muốn gặp tôi để diễn vai cặp tình nhân đâu nhỉ!?
- Ngài đúng là con người của công việc, không chịu phí thời gian vào những chuyện không cần thiết. Đúng là tôi có chút việc phải bàn trực tiếp với ngài. Chắc ngài cũng nắm được tình hình mấy tuần vừa qua rồi!? - Dumbledore nói.
- Về chuyện gì thưa ngài Hiệu trưởng!? - Cornelius nói
- Ồ, ngài không cần phải giả ngây thế đâu, chúng ta giờ cùng hội cùng thuyền, nếu tôi có chuyện gì thì ngài e cũng khó ngồi yên được lắm. - Dumbledore cười nói.
- Ông đe dọa tôi sao, ông Albus Dumbledore? - Cornelius trầm giọng xuống, nhấn mạnh từng chữ.
Dumbledore nói:
- Tôi quả không có ý đó, tôi tuy là người đề xuất nhưng người thực thi là ngài, thưa ngài bộ trưởng. Văn bản giấy tờ đều do ngài kí cả. Hơn nữa, tôi còn nắm trong tay một thứ mà nếu như để lộ ra trước công chúng, tôi e rằng ngài sẽ có một chuyến nghỉ dưỡng dài ngày tại Azkaban đấy.
Vậy ý ngài là gì!? - Cornelius sẵng giọng. Cũng may, quán rất ồn ào nếu không sẽ có nhiều người phải chú ý đến câu nói của Cornelius khi gọi một người phụ nữ là “ngài”. Nhận ra ngay điều đó, Dumbledore nói nhỏ:
- Xin ngài khẽ mồm chứ. Tôi xin nhấn mạnh với ngài chúng ta cùng hội cùng thuyền. - Khi nói đến chữ “cùng hội cùng thuyền” Dumbledore không sử dụng giọng eo éo phụ nữ mà chuyển sang giọng của ông rồi ngay lập tức trở về giọng phụ nữ, ông nói tiếp:
- Tôi và ngài đều đã ngồi lên lưng hổ cả, cái chính bây giờ cần phải tìm ra một cách thức khiến tình hình êm xuôi trở lại. Tôi được tin ngài đã đình bản một tờ báo dám đăng những thông tin không được hay ho về tình hình thi cử. Đó chỉ là giải pháp tình thế thôi thư ngài. Chúng ta chẳng thể sử dụng cách thức tương tự như vậy với mọi tờ báo cũng như bịt miệng tất cả dân chúng. Chỉ có một cách thôi ngài Cornelius ạ.
Dumbledore ngừng lời, mắt hướng về ngài bộ trưởng chờ đợi. Cornelius ngồi lặng im hồi lâu, mắt ông lướt qua gương mặt của người phụ nữ ngồi đối diện. “Thật mệt mỏi!” ông nghĩ. Nhớ lại hồi mới nhận chức vị bộ trưởng bộ Pháp thuật, lúc ấy kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy đã biến mất không một chút dấu vết, đám Tử thần Thực tử lần lượt bị lôi dần ra ngoài ánh sáng, xã hội trở nên yên bình hơn phần nào. Một vài tờ báo phỏng vấn ông về trách nhiệm của một người tư lệnh ngành có tầm ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình đất nước ông đã mạnh dạn phát biểu:
"Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy và đám tay chân của hắn ta chính là con đẻ của xã hội cũ, của nền giáo dục cũ kĩ lạc hậu. Chúng ta không nên coi giáo dục là một trận đánh lớn, tôi cho rằng giáo dục là con người, chúng ta cần hướng đến con người để đào tạo ra những pháp sư đủ bản lĩnh vượt qua sự cám dỗ. Cần phải đổi mới giáo dục đào tạo theo hướng đi hoàn toàn khác trước…"
Dumbledore cắt ngang suy nghĩ của Cornelius:
- Ý kiến ngài thế nào?
Cornelius nói:
- Ngày mai đoàn thanh tra sẽ khởi hành đến Hogwarts, đây là điều không thể không làm được. Và nếu đoàn thanh tra đến và tìm ra bất kì sai phạm nào thì…
- Sẽ không có bất kì sai phạm nào, nếu như bộ trưởng Cornelius không muốn nó sai phạm. Đoàn thanh tra của bộ Pháp thuật tiến hành thẩm định lại quá trình xét tuyển, sau đó trưởng đoàn sẽ công bố kết luận “không phát hiện dấu hiệu sai phạm trong quy trình chấm điểm”. - Dumbledore ngắt lời.
Cornelius đành nói:
- Thôi được! sẽ theo ý kiến của ngài.


Thứ Hai, 8 tháng 10, 2018

Tháo tấu vua xây dựng Đổng Tước Đài


TAM QUỐC CHẾ BẬY PHẦN THỨ BỐN MƯƠI BA

Nhắc lại, năm Kiến An thứ 12 (207) Tháo sau khi trừ được anh em Viên Hy Viên Thượng, cho quân về ngụ tại thành Ký Châu. Một hôm chợt thấy mé Nam thành có luống sáng lạ, cho người đào lên thì thấy con chim sẻ bằng đồng. Tháo mừng rỡ cho là điềm báo liền có ý xây một cái đài cao để kỷ niệm bèn bàn với các quan, Tào Thực con thứ Tháo nói:
- Muốn dựng đài cao hai tầng thì phải lập ra ba tòa: Tòa giữa cao nhất, gọi là "Đồng Tước"; tòa bên trái gọi là "Ngọc Long"; tòa bên phải gọi là "Kim Phượng". Lại nên xây hai cái cầu vồng nối dài hai bên với đền giữa cho đẹp mắt.
Tháo ưng thuận bèn về Lạc Dương vào cung tâu với Hiến Đế, Tháo nói:
- Nên xây dựng đài Đồng Tước để kỉ niệm chiến thắng trước với nghịch thần họ Viên.
Hiến Đế nói:
- Chiến tranh loạn lạc, cái cần là an dân, chớ vội vàng tiêu phí sức dân.
Tháo nói:
- Đài Đồng Tước không phải chỉ để xứng tầm với chiến công hiển hách mà để phục vụ, đáp ứng nhu cầu về đời sống văn hóa, tinh thần ngày càng cao của người dân Trung Nguyên. Để mai thiết triều bệ hạ hãy hỏi ý kiến bá quan.
Hôm sau, Tháo cùng trăm quan vào cung chầu vua. Tháo tâu:
- Việc xây đài Đồng Tước đạt tiêu chuẩn quốc tế là thật sự cần thiết và cấp bách. Đây sẽ là một công trình văn hóa mang tính biểu tượng, điểm nhấn về kiến trúc, nghệ thuật của toàn bộ Trung Nguyên ta.
Tuân Úc tâu:
- Đây là dự án được Tào thừa tướng quan tâm, ấp ủ qua nhiều nhiệm kỳ. Là công trình quan trọng cho sự phát triển, nâng cao đời sống người dân Trung Nguyên, đồng thời cũng là sự mong mỏi, chờ đợi của nhân dân Trung Nguyên.
Tào Thực tâu:
- Chúng thần mong có được nơi xứng tầm để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật chất lượng cao cùng sự cống hiến, sáng tạo của đội ngũ nhà thơ trẻ.
Chúng quan đều đồng thanh tâu:
- Đài Đồng Tước xây chính là hợp ý trời, thuận lòng dân!
Chúng quan nói: Xây Đồng Tước đài là hớp ý trời,
thuận lòng dân

Hiến đế nói:
- Cần bao nhiêu tiền để xây dựng?
Tháo tâu:
- Khoảng 1500 triệu lạng bạc, ta sẽ xây bên bờ sông Chương tại Nghiệp Quận Hà Nam.
Hiến đế giật mình nói:
- Quốc khố đang cạn kiệt do chiến tranh liên miên. Ta nghe nói, dân chúng Nghiệp Quận đang bức xúc vì mấy dự án lấy đất xây doanh trại của thừa tướng. Nay việc đó chưa giải quyết xong thì lại thêm việc này, dân chúng làm sao chấp nhận được?
Tháo nói:
- Bệ hạ vị tất phải lo lắng chuyện đó. Giờ ta hãy cứ biểu quyết thông qua chủ trương đã.
Nói xong Tháo cho biểu quyết, 100% quan lại trong triều đều nhất trí thông qua xây cất đài Đồng Tước.
Tháo mừng rỡ nói:
- Đây là công trình nghệ thuật chuyên ngành đánh dấu điểm hút, điểm đến cho tương lai Trung Nguyên chúng ta.
Hiến Đế không biết nói sao đành ra im lặng bãi triều.
Thế là Tháo từ đó cho người xây dựng đài Đồng Tước. Đến năm Kiến An thứ 15 (210) đài Đồng Tước xây xong. Dân Lạc Dương nghe tin nhà nhà hân hoan vui mừng. Có kẻ quay hướng Hứa Xương mà vái rồi nói:
- Ngắm đài Đổng Tước sẽ quên đi đói nghèo!

Đó chính là:
Đài cao mới xứng tầm kỳ đức
Tháo xây đài lớn chính là hợp ý dân




Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018

Mở trường tư, Trương Giác chiêu sinh Nghe xiểm nịnh, Linh Đế gây vạ

TAM QUỐC CHẾ BẬY PHẦN THỨ BỐN MƯƠI HAI

Mở trường tư, Trương Giác chiêu sinh
Nghe xiểm nịnh, Linh Đế gây vạ

Thế lớn trong thiên hạ, cứ tan lâu rồi lại hợp, hợp lâu rồi lại tan: như cuối đời nhà Chu, bảy nước tranh giành xâu xé nhau rồi sau lại hợp về nhà Tần. Đến khi nhà Tần mất, thì Hán Sở tranh hùng rồi sau thiên hạ lại hợp về tay nhà Hán.
Nhà Hán, từ lúc vua Cao tổ (Bái Công) chém rắn trắng khởi nghĩa, thống nhất được thiên hạ, sau vua Quang Vũ lên ngôi, rồi truyền mãi đến thời Hoàn đế Linh đế thì xảy ra biến loạn. Bấy giờ ở đất Cự Lộc, có một nhà ba anh em: anh cả là Trương Giác, em hai là Trương Bảo, em út là Trương Lương.
Trương Giác vốn thi tú tài trượt, nhân thế bực mình vào núi hái thuốc. Đi đường gặp một ông cụ già mặt tròn mắt biếc, tay chống gậy lê, gọi Trương Giác vào trong một cái động, trao cho ba quyển sách và bảo rằng: “Đây là cuốn “Thái bình yêu thuật”, có được cuốn này ngươi nên thay trời dạy người, để cứu lấy đời. Nếu sau này manh tâm tà gian ắt bị ác báo”. Trương Giác sụp xuống lạy, hỏi họ tên thì cụ già nói: “Ta là Nam Hoa lão tiên”, nói đoạn hoá ra một trận gió biến mất.
Trương Giác chiêu sinh
Trương Giác được ba quyển sách ấy đem về ngày đêm học tập, không bao lâu biết đủ các phép hô gió mưa, tự xưng là Thái Bình đạo nhân rồi mở lớp dạy học. Do đạo học suy vi từ lâu, thày rởm có chút trình độ cũng mở trường tư dạy học khiến cho người học không biết tầm sư nào cho tốt. Nghe tiếng Thái bình đạo nhân, chúng dân kéo đến theo học đông như chảy hội.
Vì muốn phục hưng lại đạo học Giác mở trường tư thục dạy học cùng hai em Trương Lương, Trương Bảo. Giác mở lớp và dạy học từ sáng đến tối, hết ca này đến ca khác. Bọn quan phủ địa phương thấy Giác và hai em kiếm ăn tốt lại không chịu đút lót mình nên tấu Vua Giác cùng hai em tự ý mở trường dạy học làm rối loạn kỉ cương mưu đồ bất chính. Linh Đế bèn cho ra lệnh cấm mở trường tư thục. Trường của Giác bị đóng cửa.
Giác thất nghiệp, bèn cùng hai em đi xin dạy học ở một đơn vị trường công khác. Bấy lâu nay, do kỉ cương lớp học bị buông lỏng khiến sư đồ lộn bậy, Giác thắt chặt lại kỉ cương, hễ học trò lơ đễnh trong lớp, Giác phạt năm roi; học trò ngủ trong giờ, Giác phạt mười roi; học trò lười biếng không làm bài tập, Giác phạt hai mươi roi; học trò cãi bậy với thầy, Giác nện cho nhừ tử. Chính vì thế mà lứa học trò do Giác đào tạo ai nấy đều có trình độ, ai hỏi gì cũng biết, ứng đối rất trôi chảy. Tiếng đồn vang xa, nhiều người lại đến năn nỉ Giác mở lớp dạy thêm ở nhà. Giác đành chiều lòng người học mà mở lớp học chui. Bọn đốc học địa phương thấy Giác phận làm thuê mà vẫn được nhiều người biết đến lại gièm pha lên quan phủ. Quan phủ ăn của đút, gửi tấu chương lên Linh Đế bản dự thảo sửa đổi luật giáo dục nước nhà với những quy định đại ý như sau:
“Dạy học tại gia không xin phép phạt đến 8 triệu lượng bạc
Quan phủ xàm tấu
Có hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm của người học, phạt đến 20 triệu lượng bạc
Xâm hại thân thể người học phạt đến 30 triệu lượng bạc.
Vừa dạy người học ở trường vừa dạy người đó ở nhà, phạt tù đến 6 tháng, tịch biên toàn bộ gia sản”.
Linh Đế xem bản tấu lại được lời xàm tấu của đám hoạn quan liền thông qua dự luật, cho người đem dán ở chợ cho dân chúng biết.
Giác đọc cáo thị thấy quy định mới của luật giáo dục mơ hồ lại nặng đòn kinh tế có ý triệt hạ đường sống của những người như mình. Giác uất quá mà về bàn với hai em:
- Hôn quân u mê nghe lời xiểm nịnh của đám hoạn quan khiến dân chúng đều oán thán. Sẵn có danh tiếng, ta không thừa thế chiếm lấy thiên hạ thì thật là đáng tiếc lắm.
Thế là Giác cùng hai em mưu ngày khởi sự. Giác xưng là Thiên công tướng quân, Trương Bảo xưng Địa công tướng quân, Trương Lương xưng Nhân công tướng quân; nói với mọi người rằng: “Nay vận nhà Hán sắp hết, đại thánh nhân ra đời. Các ngươi nên thuận mệnh trời, theo về ta để cùng vui hưởng thái bình!”
Thật chính là:
Nghe lời xàm tấu ban luật bậy
Khiến kẻ đường cùng nổi tà tâm
Chưa biết, triều đình nhà Hán sẽ ứng phó thế nào xin xem hồi sau sẽ rõ.

Lời bàn: Cứ nghe ba cái thứ xàm tấu trong giáo dục mà phạt bừa bãi kẻ dạy học thì chẳng mấy mà xã hội đại loạn.
_________
Xem thêm: Lưu Quan Trương ứng mộ rèn khí giới



Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

Thành Bạch Đế, Tiên chủ viết chiếu gửi con dân Chốn nhân gian, dân xuyên bú trend theo sự kiện


Tam quốc chế bậy hồi thứ bốn mươi mốt

Thành Bạch Đế, Tiên chủ viết chiếu gửi con dân
Chốn nhân gian, dân xuyên bú trend theo sự kiện

Bấy giờ là năm Chương Vũ thứ nhất (220) mùa thu tháng tám, tiên chủ khởi hơn 70 vạn đại quân kéo đến ải Quỳ Quan, xa giá đóng trong thành Bạch Đế. Quân tiền đội thì đã ra khỏi Xuyên. Tiên chủ ban lệnh khao thưởng sáu quân cực to rồi chia 2 đường thủy lục cùng tiến vào đất Ngô báo thù cho hai em.
Đại quân kéo đến đâu quân giặc hàng đến đó, như cỏ lướt theo chiều gió, gươm không giây vết máu nào. Đến Nghi Đô, nghe tin Tôn Hoàn, Chu Nhiên dẫn vài vạn quân ốm đói ra cự nhau với thiên binh. Tiên chủ tức giận, sai Quan Hưng Trương Bào dẫn quân công phá, đánh liền mấy trận khiến quân Tôn Hoàn, Chu Nhiên thiệt mất mấy vạn quân phải bỏ Nghi Đô lui mấy chục dặm về Di Lăng đóng quân.
Từ bấy giờ oai phong tiên chủ lừng lẫy, các tướng bên Giang Nam đều mất vía. Tin ấy được báo về Xuyên, dân chúng nhiều kẻ vui mừng quay về hướng Đông mà vái vọng. Triều đình cũng vì thế cho dán cáo thị tuyên bố:
- Tiên chủ đại thắng quân giặc. Thế nước mạnh, vận nước đang lên!
Nhiều con dân thấy tin đại thắng lại được cáo thị cổ súy, nhà nhà treo cờ, nô nức mở hội suốt đêm thể hiện lòng vui sướng. Kẻ thì cưỡi ngựa, kẻ thì cưỡi lừa, kẻ thì cưỡi trâu, cưỡi bò, cưỡi chó, cưỡi lợn,… cùng đổ ra đường ăn mừng. Có kẻ vội vã đi ăn mừng mà quần áo mặc không chỉnh tề cứ thế vác cái “ấy” chạy lông nhông ngoài đường, hò hét sung sướng. Lại có chị con gái, thích chí quá thiếu cờ hiệu liền cởi phăng xiêm y quấn vào cán chổi cưỡi lừa dẫn đầu đám dân chúng chạy khắp ngõ ngách kinh thành. Dạo đó, Thành Đô ban đêm đèn đuốc sáng trưng, ban ngày tiếng ca hát vang lừng.
Lại năm chương võ thứ hai (221) tháng giêng mua xuân Tiên chủ đại thắng ở đất Ngô, liền cho cắm trại từ Vu Giáp, Kiến Bình đến thẳng Di Lăng, dài hơn bảy trăm dặm, trước sau cất hơn bốn chục trại liên tiếp nhau. Được tin Hàn Đương, Chu Thái, Cam Ninh kéo quân tăng viện cho Tôn Hoàn. Tiên chủ tức giận, kéo quân ngự lâm đến thẳng Hào Đình, hội hết cả các tướng, chia quân làm tám đường thuỷ bộ kéo sang Ngô. Tiên chủ sai Hoàng Quyền lĩnh quân thuỷ, còn mình thì dẫn đại quân bộ kéo đi. Hàn Đương, Chu Thái nghe tin tiên chủ ngự giá đến đánh, liền dẫn quân ra địch nhưng bị đại bại, bỏ chạy khỏi Hào Đình.
Tin tức lại truyền về đất Xuyên, Hán Thừa Tướng lại cho người đi dán yết thị khắp mọi ngõ ngách báo tin thắng trận. Con dân ở Xuyên lại tiếp túc nhảy múa ăn mừng, ca hát suốt ngày đêm, nhà nhà người người đổ ra đường sơn lại tường cờ quạt treo khắp mọi nơi. Có kẻ vì hò hét nhiều quá mất cả tiếng, lạc cả giọng phải nhập viện. Còn có kẻ khác vì quá nhiều người đổ đường mà mót đái không kịp về nhà cũng không có chỗ nào đi nhịn lâu mà vỡ bóng đái phải đưa đi cấp cứu. Dạo đó, bệnh viện trung ương kinh thành Lạc Dương, tăng đột biến những ca chấn thương sọ não, gẫy tay gãy chân, dập phổi nát người,… nhiều không thể kiểm soát được.
Thế nhưng ai ai cũng vui sướng vì tin thắng trận giòn giã đổ về mặc kệ những rủi ro không may. Ca ngợi Tiên chủ và các tướng lĩnh đất Xuyên nhiều quá thì nhàm. Có kẻ mới chợt nhớ ra, trong 70 vạn quân đánh báo thù rửa hận có man vương Sa Ma Kha mang vài vạn quân rợ, lại có tướng Đổng Khê là Đỗ Lộ, Lưu Ninh trợ giúp. Thế là con dân đất Xuyên mới lại tung hô tiếp cho đỡ nhàm.
Dạo đó, con dân đất Xuyên ca ngợi man vương Sa Ma Kha đến tận mây xanh, cả một phong trào tâng công cho man vương Sa Ma Kha.
Lại nói, sau trận Hào Đình, người Giang Nam ai cũng hết vía, kêu khóc đêm ngày. Hàn Đương, Chu Thái khiếp sợ lắm, sai người về báo với Tôn Quyền, Quyền cả kinh, tụ văn võ lại bàn bạc và cất nhắc Lục Tốn lên hàng đại tướng
Lục Tốn từ khi cất lên hàng đại tướng, cầm ấn đeo gươm nhưng lại đóng chặt cửa thành không dám ra giao phong. Tiên chủ cho rằng Lục Tốn chỉ là đồ trẻ con ham sống sợ chết nên không mảy may động tâm, cho rời hết doanh trại vào chỗ rậm rạp nhiều bóng mát để tránh nắng. Tốn thấy thế cả mừng liền đem quân lén đốt trại. Thế là chỉ một trận, liên doanh trại dài hơn 700 dặm bị đốt cháy sạch. Tiên chủ hoảng hốt vét tàn quân còn lại tháo chạy về thành Bạch Đế.
Tin ấy lại được truyền vào đất Xuyên. Con dân Xuyên được tin thua trận thì lấy làm buồn rầu. Thế nhưng Hán thừa tướng lại cho yết bảng đại ý là:
“Thắng thua là việc của trời, chẳng phải ý muốn của người. Dẫu sao việc báo cừu tuyết hận cho hai em của bệ hạ đã thành công rực rỡ. Chúng dân hãy ăn mừng!”
Được tin như mở tấm lòng thế là con dân Xuyên khắp chốn thành thị đến thôn ấp lại treo cờ quạt, lôi ngựa lừa trâu lợn chó ra cưỡi lượn phố phường ăn mừng. Cả kinh thành lại tiếp tục đèn đuốc sáng trưng ngày ngày cũng như đêm.
Vì Tiên chủ thua to nên các bài hịch kích động nhân tâm không được phát ra. Có kẻ nghe tin man vương Sa Ma Kha chết trận thì nhổ một bãi nước bọt nói:
- Đã nghiện còn thích thể hiện, chết là đáng!
Bao nhiêu lời tung hô dạo trước chẳng còn được ai nhắc đến nữa.
Dạo đó, do lo lắng bọn nghịch thần tạo phản nên triều đình cho quần đi tuần khắp mọi nơi nên các sự vụ cởi đồ xiêm y xàm sỡ đàn bà con gái hay tai nạn trộm cắp giảm hẳn.
Lưu tiên chủ thất trận về thành Bạch Đế, lại không còn mặt mũi nào gặp con dân Thành Đô thế là đổi dịch quán thành cung Vĩnh An. Một thời gian vì lo buồn mà bệnh tình thêm một nặng. Biết mình khó qua khỏi, Tiên chủ mới liền gọi Khổng Minh và hết thảy quan lại đi suốt ngày đêm đến Bạch Đế.
Không Minh đến nơi, Tiên chủ nói:
- Thừa tướng có tài hùng lược hãy nhớ lời ta chăm lo đến con dân đất Xuyên. Đừng bỏ bê chúng mà phải tội.
Nói xong liền băng hà, thọ sáu mươi ba tuổi. Bấy giờ là ngày hai mươi bốn tháng tư, mùa hạ, năm Chương Vũ thứ ba (222). Các quan văn võ không ai không thương xót.
Khổng Minh dẫn các quan rước linh cữu về Thành Đô. Thái tử Lưu Thiện ra thành đón rước linh cữu vào trong chính điện, làm lễ cử ai, rồi tuyên đọc tờ di chiếu. Chiếu đại lược như sau:
“Khi trẫm mới mắc bệnh, chỉ có đi lỵ mà thôi, về sau mỗi ngày một nặng thêm, chuyển ra bệnh khác, biết rằng khó khỏi.
Trẫm nghe có câu rằng: “Người ta sống được năm mươi tuổi cũng đã gọi là thọ”. Nay trẫm đã hơn sáu mươi tuổi, chết cũng không còn oán hận gì nữa, nhưng chỉ lo về anh em chúng mày thôi!
Con dân ra thành đón rước lĩnh cữu Lưu Tiên Chủ
Các con! Phải cố gắng lên mới được! các con phải luôn tu dưỡng, rèn luyện, yêu lao động, ham học hỏi, yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tích cực phấn đấu là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan tổ tiên! Các con cùng làm việc với thừa tướng, phải đối đãi như cha, chớ có lười, chớ có quên! Anh em các con phải làm thế nào cho có tiếng khen mới được! Gắn bó mấy lời, nhớ lấy! Nhớ lấy!”
Tin Tiên chủ băng hà lan truyền khắp nơi. Con dân đất Xuyên lại một lần nữa xôn xao bàn tán. Nhà nhà người người lập án thờ đặt hướng Thành Đô mà vái. Khắp hang cùng ngõ hẻm con dân đất Xuyên ca ngợi từ khi Tiên chủ vào Xuyên chính trị đổi mới, mùa màng tươi tốt, đời sống ấm no. Ai cũng lấy làm ngậm ngùi vì tin Tiên chủ băng hà nên đâu đâu gặp nhau cũng buông lời cảm thán. Ngay ngày hôm sau, Hán thừa tướng bèn ra lệnh yết bảng cáo thị đại ý như sau:
“Toàn dân xuống đường đi diễu hành để thể hiện lòng yêu tiên chủ. Ai có ngựa cưỡi ngựa, ai có lừa cưỡi lừa, không có ngựa lừa thì cưỡi trâu bò lợn gà, ai cũng phải xuống đường đưa tiễn.”
Thế là con dân đất Xuyên lại một lần nữa đem tất cả “phương tiện” ra đưa tiễn Tiên chủ nhập quan. Được dịp hội họp ai ai mặt mũi cũng vui mừng hớn hở đối nghịch với tinh thần đưa tiễn Tiên chủ về trời.
Người sau có thơ tả rằng:
Dân xuyên cần quái gì Tiên chủ
Cũng cần cóc gì chuyện thắng thua
Chỉ cần sự kiện rồi theo đóm
Vác ngựa lựa lợn lượn vài tua

Những ngày đó, con dân đất Xuyên đâu đâu cũng bàn về sự việc tiên chủ băng hà.
Có nhà ở chốn rừng rú cả đời chẳng bước chân đến chốn đô thành, chưa một lần được nghe hai chữ Lưu Bị chẳng biết đến tình kết nghĩa Lưu Quan Trương cũng chẳng hiểu gì việc thiên hạ. ẤY mà khi thấy làng xóm mua hương hoa lập bàn thờ cúng tế, sợ mình lạc loài nên cũng mua hương hoa với lập bàn thờ tế bái. Do không nghe rõ lời khấn kẻ đó đọc chệch Lưu tiên chủ thành “Lưu Điên chủ” trong bài văn tế.
Có kẻ ở chốn lầu xanh, ngày ngày chỉ biết có mỗi việc dạng háng, quý gối với chổng mông nào có biết đến ơn mưa móc của Lưu Tiên chủ nhưng thấy khách quan vào gặp mình đều nhắc đến Lưu Tiên Chủ, mỗi khi hành nghề đến độ sung sướng thì hét lên: Tiên chủ.. ối cha ư ư… băng … hà … nhẹ thôi huynh… ư ư… con dân…ư ư… đất Xuyên phải…ư ư…làm sao!!!
Còn có kẻ khác hành nghề đào tường khoét vách, cả đời cũng chả biết đến Tiên chủ là ai nhưng khi bị bắt thì vội vàng tấm tứt vạch cái áo mình ra khoe cái hình xăm 3 chữ Lưu tiên chủ ra rồi hết lời ca ngợi Tiên chủ. Gia chủ sợ đem giải lên quan huyện sẽ bị khép tội chống đối nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết con dân khi bắt trói người có lòng cuồng nhiệt yêu tiên chủ đến độ xăm mình mà đành phải thả kẻ đó đi.
Con những kẻ gấu chó anh hùng xóm, một bước ra cổng làng cũng chưa, khi đi gây gổ đánh nhau, mỗi lần đánh đều hô: Tao đánh mày để trả thù cho Lưu tiên chủ. Khi giải lên quan huyện thì kẻ đó nói:
- Vì yêu tiên chủ quá mà phải tìm kẻ trút giận.
Thế là kẻ đó được trắng án.
Còn có những kẻ thấy đàn bà con gái nhà lành nổi máu tà dâm xông vào hãm hiếp bị phát giác thì thì hét lên:
- Tao hiếp vì Lưu tiên chủ. Hiếp! Hiếp! Hiếp
Đến khi được hỏi Lưu Tiên chủ là ai thì kẻ đó nói:
- Lưu tiên chủ là Lưu tiên chủ chứ Lưu tiên chủ còn là ai được nữa!
Biết rằng kẻ đó không hề biết Lưu tiên chủ là ai nhưng cũng đành phải thả đi bởi nếu giải quan huyện thì sẽ bị mang tội “khi quân” vì dám bắt trói con dân đang tung Tiên chủ.
Đó chính là:
Dân Xuyên cần mẹ gì Tiên chủ
Cần mỗi cái lý do để đú trend