Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhảm nhí. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhảm nhí. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Sự tích chín tòa tháp đen bên hồ Dịch Đờm

 Lĩnh Nam Chích Quái tục biên

Sự tích 9 tòa tháp đen bên hồ Dịch Đờm
Từ ngày Nhị Tam Tổ nối ngôi lấy niên hiệu là Khai Nguyên, đất nước bước vào giai đoạn cực thịnh, con dân nỏ đủ nhà nhà yên vui. Bấy giờ vua đi du thuyền ở hồ nước tại phía tây bắc kinh thành vãn cảnh thì bỗng mắt nước nổi cơn sóng to, mây mưa mịt mù, trong bóng mây vua thầy 1 bóng người mặc đạo bào trắng toát, tay cầm phất trần, chân đi trên mặt nước nhìn vua, miệng lầm bầm chú ngữ, tay chỉ 9 lần về phía đông bắc rồi biến mất. Mặt hồ lại hết giông mưa rồi im ắng trở lại. Vua lấy làm lạ định đưa tả hữu chạy theo thì bỗng xây xẩm mặt mày ngã xuống, tả hữu hai bên vội cứu hồi lâu mới tỉnh. Vua tỉnh dậy nhớ lại bèn sai quân sĩ chèo thuyền theo hướng đông bắc mà tiến. Quân tướng đi được 9 dặm thì bấy giờ là tiết tháng 2 cả đoàn thuyền lạc vào sương mù không đi được nữa. Vua sai quân tướng đốt đuốc làm hiệu thì thuyền đã mắc cạn trên một gò đất. Có tên lính người địa phương bẩm vua rằng hàng năm ở khu vực này thường có yêu tinh đến quấy nhiễu dân quanh vùng, chúng đi từ dưới nước đi lên, nay thì lại thấy gò đất này. kỳ sự tất hữu quái, vua bèn cho thuyền quay trở về thì bỗng bãi bồi rung chuyển ầm ầm, cát bay đá chạy, tả hữu cố gắng chèo thuyền thoát khỏi mặt hồ thì chỉ có mươi người còn bao nhiêu quân lính đều chìm cả xuống hồ. Vua cả giận mắng ầm lên:
- Thằng già yêu quái bào trắng, mày dám mưu hại ta, Ta thề phải giết mày.
Nói rồi vua cho quân lính đào mương rút nước, lấy đất lấp hồ ra đến chỗ bãi bồi. Bấy giờ mặt trời lên cao sương mù tan cả. Giữa bài bồi vua thấy 1 cái miếu, vua cho quân lính phá miếu thì thấy có 1 bia đá đen bên trong có khắc đại ý nội dung như sau:
Nơi đây chấn yểm cửu thủ xà vương, cứ mỗi 1000 năm xà vương sẽ lại nổi lên gây họa nhân gian, cần có chân mệnh thiên tử tiến hành lập đàn trấn yểm để trừ hậu họa cho thiên hạ. Vua nhìn ngày lập bia thì thấy cách đây cũng gần 900 năm, bèn cho người tu sửa lại miếu rồi lập quảng trường cầu An khấn vái 9 ngày 9 đêm. Đèn đuốc sáng trưng, hoa cỏ rợp trời, trống chiêng inh ỏi, con dân khắp nơi kéo đến xem hội. Vua cho tu sửa mở đường ra miếu rộng 72 thước, đặt người hàng năm cúng tế. Kể từ đó, quốc lực càng thêm cường thịnh, dân chúng kinh thành thoát được các sự quái lạ xảy ra hàng năm. Trăm năm sau vì nhị tam tổ tu sửa lại miếu cổ, gia sức trấn áp xà vương mà nhân dân thoát kiếp nạn ngàn năm.
Sau trải qua các triều đại biến động, bãi bể nương dâu, tục lệ mai một, trận pháp trấn yểm xà vương không người tu sửa, thủy quái yêu tinh lại hoành hành quanh hồ. Bấy giờ có vị đạo trưởng đi qua nhận thấy yêu tinh hoành hành quanh hồ liền dừng lại bói 1 quẻ dịch thì phát hiện ra trận đồ trấn yểm nơi xưa kia vua nhị tam tổ khi xưa, đạo trưởng bèn tu sửa lại trận pháp trấn yểm, xây 9 cái bia trấn lên lưng xà vương rồi lại lập ra đạo quán bên hồ nhằm theo dõi động tĩnh.
Lại gần ngàn năm nữa trôi đi, thế đạo suy vi, chủ vật thượng đỉnh dân gian gian không còn ai nhớ đến kì công của bậc tiên hiền. Hồ nước xưa đã hóa đăt bằng, trận pháp xưa chỉ còn trong truyền thuyết. Bỗng có nhóm dân buôn ở Ô Khắc Lan bỏ của chạy lấy người trong lúc đi qua nơi xưa, tạm nghỉ lại đạo quán ven hồ tình cờ đọc được sự tích liền tò mò ra đấy xem thấy địa thế phát vượng mới họp nhau mượn danh người xưa cũng lập đàn trấn yểm nhưng thay vì làm bia, vẽ bùa chúng xây hẳn 9 khối bê tông đổ sơn đen bóng và bảo rằng trấn yểm thế mới hợp thời. Rồi chúng còn loan tin rằng ai ở trong trận huyệt thì đời đời con cháu gia tộc hưởng lộc. Khi khởi công trời nong đất nở, mây gió tung hoành rồi im. Công trình trấn yểm mấy năm sau thành hình. Đêm hôm đó dân kinh thành đều mơ thấy có 1 lão giả mặc đồ đen huyền chỉ mặt mà mắng rằng:
- tao là xà vương, vốn dĩ định ở lại đất này quậy phá chơi nhưng vì kinh tởm hành vi của đám mọi rợ xứ này mượn danh ta mà làm trò xằng bậy. Chúng bay không đáng để ta phí tâm cơ. Nói rồi xà vương nhổ một bãi nước bọt vào mặt và biến mất.
Hôm sau, ngta thấy bên cạnh cái gọi là khu trận trấn yểm lại xuất hiện trở lại một hồ nước to như cũ. Dân trong vùng từ bấy giờ gọi là hồ Dịch Đờm. Còn cái công trình tởm lợm ấy vẫn ngang nhiên xuất hiện. Nghe đồn đám con buôn Ô Khắc Lan còn đòi mở rộng thêm đường ra khu trận pháp trấn yểm, xây thêm 1 cơ số các khối bê tông yểm xà vương dù cho xà vương đã nhổ nước bọt vào mà quay phắt bỏ đi.

Thứ Sáu, 13 tháng 6, 2025

TAM QUỐC DÃ SỬ BỔ DI PHẦN 52

 Lại nói Đổng Trác chống nhau với Thập thất lộ chư hầu biết khó địch bèn có ý đem vua về Trường An mới bàn với Lý Nho, Trác nói:

- Ta có ý muồn lui về Trường An nhưng e thiếu kinh lương lại sợ quan dân không thuận e khó mà đi được.

Nho liền hiến kế:

- Nay con có 3 kế thượng, trung, hạ mời nhạc phụ nghe thử. Tiền vàng trong dân Lạc Dương còn nhiều lắm, nhạc phụ cứ đêm đến cho quân thiết kị xông vào giả làm quân địch tập chém sạch cả nhà rồi cho lính mặc áo phản tặc vào, hôm sau đến chỉ việc tịch thu gia sản xung công là có ngay kinh lương. Loan tin bệ hạ muốn vãi ơn mưa móc cho dân Lạc Dương sau đó ban lệnh tăng các loại thuế gấp nhiều lần để bù quốc khố không chỉ ở Lạc Dương mà trên toàn quốc đấy là trung sách. Tổ chức cho dân chúng trò vui chơi có thưởng gọi là Đế - lột để quên đi tình hình căng thẳng lại thỏa cái chí đổi đời "không muốn làm mà đòi có ăn", hàng tuần cứ công bố người trúng thưởng cho đi diễu phố, đấy là hạ sách.

Trác nói:

- Thượng sách thì gấp gáp quá mà hạ sách thì lại quá trì hoãn. Nhưng ta là thừa tướng sao phải chọn kế, cứ thi hành cả liên hoàn kế cho ta. 


Ấy thế là Nho mới cùng với bọn Lý Thôi, Quách Dĩ y kế mà làm. Đêm hôm đấy 5 nghìn quân thiết kị xông vào nhà giàu ở Lạc Dương có đến mấy nghìn hộ, chém sạch cả nhà, bao nhiêu của cái lấy hết. Có nhiều nhà chỉ có mỗi cái quần của Chử Đồng Tử cũng bị vạ lây. Tiếng kêu khóc động trời chuyển đất. Mấy bữa sau, Trác bố cáo thiên hạ rằng dân Lạc Dương trải qua tai kiếp bất nhờ nay bệ hạ giáng chỉ ban lộc vua cho toàn dân Lạc Dương hưởng lộc mỗi hộ được ban 10 hộc gạo. Dân chúng nghe tin mừng hớn hở ơn mưa móc triều đình thì lại được tin do thiên ý đã định cần rời đô về Trường An xây dựng cung đô nên triều đình tăng tất cả các loại thuế lên gấp 10 lần. Lại sai xứ đi khắp nơi ban lệnh Triều đình hẹn phải thực hiện ngay. Dân Lạc Dương thấy thế chỉ biết căm hận giặc Đổng. Chốn kinh thành lại vang tiếng thiết kị khắp nơi thu thuế còn thiếu, cảnh tường đổ, cổng gãy, mái lật khắp nơi không biết đâu mà kể.

Thấy dân chúng kêu thấu trời xanh, Nho mới bèn bố cáo tiếp rằng triều đình thấy trăm họ mấy năm mất mùa, giặc giã lại phu phen tạp dịch thuế cao tô nặng nên bày ra sự kiện thay đời đổi vận "đế lột" cứ hàng ngày vào Chính dậu ba khắc triều đình sẽ yết bảng tại Ngọ môn. 

Từ đấy Lạc Dương bỗng xuất hiện bài đồng dao:

Mé tây một người trúng

Mé đông một người trúng

Vàng đế - lột trăm thúng

Liền thoát cảnh tù túng


Rồi mấy hôm sau bách tính thấy triều đình tổ chức đoàn xe bát mã phía trên có một kẻ thân cao sáu thước mốt, quần áo như kẻ chạy nạn tả tơi rách nát, da vàng bệch, mặt đeo diện cụ Hắc hoàng không rõ khí chất ra sao, đằng sau là mấy chục thúc hoàng kim được quan quân đưa đi diễu phố nói đây là kẻ đã trúng đế - lột. Cứ từ đó 3 ngày lại thấy một đoàn diễu nhỏ, 5 ngày lại thấy một đoàn diễu to tất cả đều đeo diện cụ hắc hoàng, tất cả đều có thúng vàng đằng sau, tất cả đều trúng đế - lột. Trăm họ thấy thế liền nổi máu ham đổi đời đua nhau bán nhà bán cửa, bán vợ đợ con chơi đế - lột.

Thám báo đưa tin về cho Tháo, Tháo cười nói:

- Ấy là kế thằng Lý Nho, làm gì có đứa nào trúng đế - lột, một giuộc với nhau cả thôi, bố con thằng Lý Nho nó muốn vơ vét hết tiền của trăm họ đấy thôi. Trò trơ trẽn ấy chỉ có bọn đầu đất óc cứt mới tin thôi. Dân Lạc Dương tin theo lời bố con giặc Đổng thì đến cái quần lót cũng chả còn.

Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018

Tư cách Chổm


Tư cách thằng Chúa Chổm hay chuyện anh Giáo đã bị tha hóa như thế nào?


               
Chào anh Giáo, tôi có nắm trà xanh mới xin được từ nhà cụ Tư định nhờ anh nồi nước sôi đây – Xiển vừa vào đến sân đã giọng oang oang như cái vốn dĩ của thằng Mõ làng cần lớn giọng. Cả làng không ai ưa Xiển vì Xiển là một thằng Mõ. Lắm người khinh Xiển ra mặt ấy vậy mà Xiển cũng chẳng giận vẫn cứ hềnh hệch cười mỗi khi người ta tỏ thái độ.  Anh Giáo là người duy nhất trong làng không tỏ thái độ với Xiển nên thi thoảng Xiển có qua nhà chơi và hình như thái độ cũng giữ lễ hơn cả.
Nấu nồi nước sôi, cho vào cái ấm trà mẻ vòi. Trà chưa kịp ngấm Xiển đã vội rót một bát uống. Mà cái cách uống của Xiển rõ là tham lam, trà nóng thế mà Xiển cứ ừng ực từng ngụm to rồi khà khà khen trà ngon.
- Trà này tôi xin được của cụ Tư đấy, gớm nữa có vài lá mà cụ phải đừng rình đằng sau mặt hằm hằm làm tôi đến phát sợ.
Xiển nói rồi cười nhăn nhở, tay vơ lấy cái điếu bát lại rít lấy một hơi dài ngửa mặt lên trời tỏ ra khoan khoái lắm.
- Anh Giáo ạ, lão Hạc chết cũng được ba năm rồi nhỉ, mảnh vườn và căn nhà của lão nhường cho anh sao anh không sử dụng.
- Ấy chết! sao tôi dám, đó là của con trai lão, tôi chỉ là người giữ hộ. Lão quyết chết để giữ vườn cho con Lão. Ngộ nhỡ con Lão về, tôi biết ăn nói sao – Anh Giáo xua xua tay nói với Xiển
- Thì thằng con lão biệt xứ cũng đã gần chục năm nay rồi. Đi cao su có mấy thằng về được làng đâu mà anh Giáo lo.
Cao su đi dễ khó về, anh Giáo biết việc đó chứ. Nhưng mỗi khi túng quẫn anh giáo định làm gì đó với 3 sào vườn nhà lão Hạc thì lại nhớ đến cái chết vật vã của lão là anh lại cảm thấy hổ thẹn. Vợ anh cũng nhiều lần bảo anh mình cứ sử dụng, thằng con lão về thì mình trả cho nó rồi đưa cho nó ít tiền để người ta đổ đất bãi vào lại. Giờ bỏ hoang thế cũng phí của giời. Anh nhất định không nghe cũng chỉ vì cái chết của lão. Thị nói nhiều thấy anh nhất quyết tuy ấm ức nên rồi cũng thôi. Nhưng mỗi lần túng quẫn  thị lại nói kháy mấy câu cho bõ tức. Giờ thì đến lượt Xiển nói.
Thấy anh Giáo trầm ngâm không nói gì Xiển nói tiếp:
- Hồi anh làm ma cho lão Hạc cũng hết bộn tiền đấy nhỉ.
- À đấy là tiền lão đưa cho tôi chứ tôi nào có – anh Giáo nói.
Xiển cười:
- Ồ, anh lại khéo nói rồi, đám ma lão Hạc tốn đến bốn chục đồng, lão chỉ đưa anh có ba chục đồng. Anh làm to, bày vẽ quá chị nhà nói cho cả làng biết coi như lão nợ anh chục đồng, lão chết không trả được thì con lão trả thay. Con lão chưa về thì anh Giáo cứ bòn vườn của lão bù vào.
Nào anh Giáo có phải không biết, anh nghèo thật, vợ con trông chờ vào việc anh làm của anh cả. Nhà 5 miệng ăn nheo nhóc. Ở cái xứ này, đến miếng ăn còn chẳng đủ lấy đâu ra việc lo cho con chữ. Anh phải làm đủ nghề khác để kiếm sống nhưng sức anh yếu chẳng thể làm khỏe được như đám lực điền, việc nặng nhọc nhìn anh người ta chẳng mướn. Nếu sử dụng mảnh vườn ấy, có lẽ gia đình anh cũng đỡ đi được đôi phần. Nhưng tư cách anh không cho phép. Đói thì đói thật, có thêm một chút nữa từ mảnh vườn cũng không khiến nhà anh bớt đói. Anh nhất định để nguyên mảnh vườn đấy đợi con lão về rồi hãnh diện trả lại. Đấy là chút kiêu ngạo còn xót lại của tuổi đôi mươi đầy hoài bão.
Xiển thấy anh Giáo trầm ngâm mãi thì nói:
- Nếu anh Giáo không chịu làm thôi thì cứ nhắm mắt làm ngơ để tôi đến ở. Anh Giáo yên tâm, tôi mõ thật nhưng cũng có tư cách thằng mõ, tôi không để anh thiệt đâu. Sau này nếu con lão về thì tôi trả lại. Ở đời có thằng nào ngu đi chấp nhau với mõ đâu.
- Anh thứ lỗi cho tôi, làm thế tôi thấy áy náy lắm.
Mõ Xiển thấy anh Giáo nhất định từ chối thì xỗ giọng:
- Thôi thế cũng được, bữa trước thấy anh đúng cơn túng quẫn, mõ tôi có cho anh vay mấy đồng bạc chữa cái bệnh cảm cho đứa lớn nhà anh. Tôi giấu chẳng nói với ai, nay anh cho tôi xin lại.
Thói thường biết tí con chữ thường lên mặt với đời, anh Giáo cũng thuộc hạng nghèo nhất nhì cái làng nhưng vẫn cứ tỏ vẻ ta đây không phải vay nợ ai. Cả làng vẫn nể anh cái đó. Nay Xiển nói thế anh biết không trả thì Xiển sẽ lu loa thì nhục với dân làng sẽ chẳng còn mặt mũi nào nữa. Anh nói:
- Bữa đó, anh nói khi nào có thì trả, nay anh đòi đột xuất quá. Tôi quả chưa thu xếp được ngay. Xin khất anh đến ngày mai. Nhà sẵn mấy bơ gạo thôi mong anh cầm tạm để mai tôi gửi.
Xiển cười hềnh hệch đợi anh Giáo vào nhà lấy gạo. Sợ Xiển không tin, anh Giáo bê nguyên hũ gạo ra cho Xiển xúc. Xiển vét hết không còn lấy một hột.
- Chỗ gạo này chỉ đủ phần nhỏ chỗ tôi cho anh Giáo vay. Đấy, mai tôi qua xin nốt.
Chiều tối hôm đó, cả  nhà anh Giáo phải ăn củ chuối mót ở vườn thay cơm. Chị vợ đay nghiến:
- Đã nghèo còn thêm bệnh sĩ diện hão. Ngay mai thằng mõ nó đến đòi thì biết lấy cái gì mà trả. Bữa trước ông cho thằng Binh Tư vay tiền, mai đòi nó mà trả cho nó không kéo nó làm ầm lên làng trên xóm dưới người ta cười cho.
Binh Tư làm nghề trộm chó, mấy bận trước bị người làng bên bắt, đánh cho thừa sống thiếu chết. Anh Giáo thương tình cho mượn tiền mua thuốc thang. Mãi  từ dạo đó đến giờ chẳng thấy Binh Tư nhắc đến việc giả nợ, anh thì ngại chẳng đòi.  Nay thị vợ nhắc, anh Giáo đành phải tính chuyện sang nhà Binh Tư đòi tiền.
**********

Sáng hôm sau anh Giáo sang nhà Binh Tư đòi tiền, thấy Binh Tư đang cùng Cu Tõn uống rượu. Thấy anh Giáo Binh Tư hà hà cười mời vào uống chung cho vui. Anh Giáo từ chối không uống nhưng cũng ngồi xuống bắt chuyện. Vòng vo một hồi anh Giáo mới nói đến chuyện vay nợ. Binh Tư nói:
- Tiền tôi vay ông Giáo hả? Khi nào thế?
- Thì cái lúc anh ốm thập tử nhất sinh vì làng bên cho người sang đòi chó mấy năm trước đấy thôi – anh Giáo phân trần.
- Này ông Giáo – Binh Tư sẵng giọng – ông  là người có học thức, tử tế thì đừng có ăn không nói có vậy. Thằng này bình sinh chỉ biết đi trộm để kiếm ăn chứ không có chuyện đi vay nợ của ai hết.
Anh Giáo chưng hửng:
- Thì tôi biết anh không chủ động vay tôi, nhưng tôi thương anh thập tử đưa tiền mua thuốc thang…
- Nếu có vậy đi chăng nữa thì đấy là do ông Giáo cho tiền chứ Binh Tư có vay đâu mà sang đòi – Cu Tõn cắt ngang, cầm cái đầu con cá rô huơ huơ lên trước mặt anh Giáo – Ông Giáo có ngồi đây uống rượu với chúng tôi thì ngồi còn không thì biến.
Anh Giáo biết không đòi được nên đành đi về, ra đến bờ rào thì nghe tiếng cười khả ố của Binh Tư:
- Để lâu cứt trâu hóa bùn, ngần ấy năm rồi mà thằng Giáo nó mới đi đòi thì đòi sao được cơ chứ.
*********
Thấy chồng không mang được tiền về, chị vợ chì chiết:
- Ông học hết chữ tây chữ tàu của thiên hạ rồi mà vẫn dại thế. Ở đời ngu nhất là vay tiền thằng Mõ và cho thằng trộm chó mượn tiền. Lát nữa nó sang đòi tiền thì lấy đâu mà trả. Mà giờ nhà cũng chẳng còn gạo, anh định để hôm nay bốn mẹ con tôi nhịn đói hay sao? Tôi không biết ông đi đâu kiếm gạo kiếm tiền được thì đi.
Anh Giáo biết chị vợ vốn là người thương chồng thương con, anh không trách thị như cái lần thị rủa Lão Hạc chết là đáng kiếp khi có tiền mà không chịu tiêu. Từ khi lấy anh Giáo, thị chưa một ngày được cái an nhàn. Quanh năm tất tả ngược xuôi. Cái đói cái nghèo quấn lấy chẳng thể thoát. Chao ôi! Kiếp người quanh quẩn chuyện áo cơm, chạy ăn từng bữa thì cái hiền lành, tử tế rồi cũng mai một đi thôi.
- Thôi, ông sang nhà Ba Huynh, Hai Hổ đòi tiền công dạy học bữa trước đi. Hai nhà đó khất lần mấy lần rồi. Ông còn sĩ diện hão cái gì nữa. Sĩ diện có lấp đầy bụng được của ông không?
Anh Giáo lật đật sang nhà Ba Huynh, Hai Hổ đòi tiền thì người nhà đều than nghèo kể khổ vợ con nheo nhóc, anh Giáo chẳng nỡ và có nỡ cũng chẳng biết xiết nợ cái gì nên đành về không.
Nhà chẳng còn gì để bán, anh Giáo đành phải đi vay. Vay ai bây giờ? Vay ai để người ta giấu chuyện mình đi vay, để người ta không cười mình? Anh đánh liều đi vay anh Giáo Thứ làng bên. Cũng nghề Giáo với nhau, nhưng anh Giáo thứ còn được làm nghề và có lẽ anh ta cũng hiểu cái sĩ diện của người làm thầy. Anh bảo vợ:
- Tôi sang làng bên chút việc. Cậu Xiển đến thì nhà nó cứ bảo cậu ta đợi tôi khắc về có đủ tiền đem trả. Đừng có để cậu ta lu loa lên không nhà mình xấu hổ. Rồi tôi sẽ đem gạo về cho nhà nó nấu cơm tối.
Nói xong anh Giáo tất tả sang làng bên. Đến chiều tối mới về đã thấy Xiển ngồi chễm chệ ở chõng tre đầu hè. Chưa kịp nói, Xiển đã hớn hở:
- Thế nào anh Giáo có tiền trả tôi không đấy.
- Đây, bữa trước tôi vay anh 7 đồng rưỡi, hôm qua anh đã lấy của tôi hũ gạo tính ra cũng đã 1 đồng 2. Tôi trả anh nốt khoản còn lại.
Anh Giáo nói xong rúi xòe tiền ra dúi vào tay Xiển, Xiền cười khà khà rồi xoa đầu đứa lớn nhà anh Giáo nói:
- Cứ tưởng bố cu chẳng có tiền ai ngờ tiền giắt đầy thưng, thôi chú cho mấy đứa mấy quả chuối xanh để ở chõng đấy nhé.
À hóa ra Xiển khi sang mang theo cút rượu với mấy quả chuối xanh, định bụng anh Giáo không trả tiền thì ngồi lì ở nhà anh Giáo mượn rượu để chửi.
- Đúng là bẩn như thằng mõ! –  Anh Giáo rủa thầm.
Tối hôm đó, cả nhà anh Giáo được một bữa ăn có cơm gạo trắng, cả nhà cứ vui như tết còn anh Giáo thì lòng nhấp nhổm bất an.
***********
Mấy hôm sau, anh Giáo còn đang tính chưa biết đi xin việc làm, bởi vụ mùa cũng qua chẳng còn ai thuê mướn nhiều nữa thì Năm Điền đến chơi nhà. Trà nước được độ tuần anh Năm nói:
- Bữa trước anh có sang nhà tôi vay tiền, anh có hẹn tôi độ sang tháng sẽ gửi lại. Nhưng anh thông cảm tôi giờ chuẩn bị đưa thằng cu lên tỉnh học nghề, cần ít tiền cho nó làm lộ phí.
Hóa ra hôm đấy anh Giáo không sang làng bên mượn tiền, đi nửa đường thì anh sợ mất cái sĩ của anh giáo nên quyết định quay về mượn tiền Năm Điền. Năm Điền nể anh Giáo trước đó cũng có dạy con mình nên cũng cho mượn tiền. Nhưng đến nay mới được mấy hôm đã sang đòi.
Anh Giáo đành hẹn:
- Vậy anh cứ về đi, chiều nay tôi sẽ qua anh gửi tiền.
Năm Điền nhất định không chịu về, anh phải nói mãi mới tiễn được anh ta về. Ra đến cổng anh ta còn ới vào:
- Tôi đợi anh đến quá trưa, anh không sang thì tôi lại qua nhà đấy.
Cái kiếp con nợ mà muốn giữ tư cách làm con nợ tử tế thật là khó. Anh lại phải muối mặt đi vay người này trả người kia. Mỗi lần vay anh đều xin người ta giấu nhẹm chuyện của mình và hẹn đúng ngày sẽ trả. Thế lần nào cũng thế, chưa đến hẹn chủ nợ nó đã đến đòi thành thử anh lại phải vay tợn. Cả ngày chi đi xoay tiền trả nợ hết người này đến người kia, ngày này sang ngày khác.
Một hôm, anh Giáo  đi quán nước đầu làng thì nghe được câu chuyện người ta kháo nhau. Thì ra tất cả là do mảnh đất lão Hạc để lại, bọn lý dịch trong làng không tơ hào được gì phẫn uất xui Mõ Xiển đến nhà anh Giáo đòi nợ đúng lúc anh túng quẫn nhất. Rồi thì chúng lại dò la xem ai cho anh Giáo mượn tiền ép người ta đến đòi nợ anh sớm. Người ta nói với nhau: Đã bỏ xứ ra đi rồi lại phải vác mặt trở về thì giáo giáo cái gì. Tư cách gì một thằng có chữ mà chẳng kiếm nổi một đồng trả nợ. Họ nói xong rồi cười ồ lên với nhau.
Phẫn chí khi nghe được câu chuyện ấy, anh về nhà cả đêm không ngủ được. À giờ làm thằng tử tế ở cái thời buổi này sao mà khó thế. Đã vậy sẽ cho chúng bay biết mặt.
************
Hôm sau, anh Giáo đến một lúc mấy nhà trong làng vay tiền. Mỗi nhà như thường lệ anh vẫn nói xin giấu chuyện mình vay nợ, xin họ thương anh, thương cho cái sĩ diện của anh. Lúc đầu thì anh cũng ngượng ngập, ấp úng nhưng được độ vài lần thì anh quen. Có nhà anh biết chắc họ đang thèm nhỏ rãi cái mảnh vườn 3 sào của lão Hạc, anh Giáo viết giấy biên nhận đàng hoàng nếu không trả nợ được thì sẽ gán đất. Người làng ngỡ anh Giáo túng quẫn, làm giấy biên nhận thì nắm đằng chuôi nên vui vẻ nhận lời. Cái mảnh đất ấy giá đến gần trăm đồng bạc mà anh Giáo chỉ mượn có một vài chục đồng thì chẳng phải lời lắm sao mà lại không điểm chỉ vào cơ chứ! Ấy mảnh đất của Lão Hạc trở thành cần câu cho anh Giáo câu tiền dám dân làng.
Thế rồi dần dần anh biến thành con nợ của làng từ khi nào chẳng biết. Anh mượn  tiền được cả của đám lý dịch trong làng. Mỗi khi có người đến đòi, anh lại khất hẹn “mai trả”. Mai người ta đến đòi anh lại khất “mốt trả”. Mốt người ta đến đòi thì anh lại hẹn “đúng một hôm nữa trả”. Có người phẫn uất cầm theo cái giấy biên nhận đến đòi tịch thu cái mảnh vườn thì anh Giáo cười chỏ vào tờ giấy nói:
- Mảnh giấy này ghi nhà anh tặng tôi tiền, anh điểm chỉ đàng hoàng thế kia còn đòi tiền tôi gì nữa.
À, hóa ra anh Giáo biết người ta không biết chữ thế là anh Giáo mới viết bậy vào đấy, người ta tin anh Giáo nên không để ý.
Có người đến nhà anh nhiều quá anh bực mình gắt:
- Đòi đéo gì lắm thế, đã bảo mai trả là mai trả!
Rồi anh cậy mình có con chữ, xổ ra một tràng quy trình chi phí thưa kiện làm bọn chủ nợ thấy chưa được vả thì má đã sưng mà thoái chí không dám thưa quan trên. Mỗi lần như thế, khi họ ra về họ chỏ vào nhà mặt anh Giáo chửi:
- Tư cách giáo đéo gì anh, Chúa chổm thì có.
Anh Giáo cười đáp lại:
- Thì tôi là chúa chổm, tôi phải giữ tư cách một thằng chúa chổm chứ!
Còn đám chức sắc lý dịch trong làng thì đa phần mù chữ chỉ nhờ lo lót mà được làm chức tước trong làng, lại tham mảnh đất 3 sào rẻ bèo nên giấu diếm cái chuyện anh Giáo gán mảnh đất để vay tiền thành ra khi vỡ nở thì chẳng làm gì được anh Giáo.
Đến bây giờ trong làng, người ta không còn gọi anh Giáo là anh Giáo nữa mỗi khi anh đi đâu người ta đều nói xỏ:
- Chúa chổm lại đi vay tiền đấy hả?!
____________

Lời cuối: Như chuyện đời nào cũng có, xin thành kính tưởng nhớ đến nhà văn Nam Cao.


Thứ Năm, 9 tháng 8, 2018

Hành trình sang nước bạn


Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê giàu lòng yêu nước, ở mảnh đất ngàn năm văn hiến, ngày ngày phải chứng kiến những thứ đang diễn ra một cách nhàm chán, chàng thanh niên quyết định sang nước bạn để xem bên đó họ làm gì rồi về gây dựng quê hương đất nước.

Chàng trai cưỡi lên con chim sắt, vượt qua không biết bao nhiêu rừng núi, biển sông cuối cùng chàng đến một thành phố của nước bạn mang tên Siem Riep. Chim sắt vừa thả chàng xuống dưới mặt đất thì bỗng có 2 anh thổ dân chìa tay ra nói thứ tiếng chàng chưa nghe thấy bao giờ, chàng không hiểu. Thế là họ chỉ vào mặt chàng rồi chỉ vào tờ giấy họ đang cầm. Chàng trai ồ lên, hình như họ bảo chàng phải nhìn vào tờ giấy đó. Chàng cúi xuống ngó vào tờ giấy thì bỗng họ lại đẩy vai chàng lên không cho chàng cúi xuống nhìn. Chàng đếch hiểu gì cả !? Rồi họ lại nói cái gì đó rồi viết mấy kí tự latin mà thú thật đấy là thứ tiếng chàng cũng đếch hiểu lắm. Họ khua chân múa tay cùng chàng khua chân múa tay mà giờ chàng nghĩ lại thấy cứ như chàng với họ đang múa một điệu múa cổ truyền nào đó rất thú vị. 

Bất lực trước chàng, họ đành đẩy lùi chàng ra một bên và sau đó làm việc với các vị khách khác. Chàng rỗi chẳng thèm nhìn họ nữa thì họ lại vỗ vai, ra dấu cho chàng. Hình như họ bảo chàng phải nhìn cái gì đó. Họ chỏ vào một người phụ nữ gốc thiên triều. Họ bảo chàng hãy nhìn chị ta. Chàng chăm chú nhìn. 

Kết quả hình ảnh cho Dara Reang Sey Angkor Hotel
"Ồ ra vậy, hóa ra họ bảo mình phải xuất trình cái giấy thông quan" Chàng phá lên cười. 

Chàng móc trong tay nải ra chìa giấy thông quan cho 2 chàng thổ dân bản địa. Họ lườm lườm một hồi sau rồi họ cũng cho chàng đi.
Chàng lại xách tay nải lên đường đi tiếp, chàng đi qua nhiều ngôi nhà, nhiều dãy phố và cuối cùng chàng đến một cái công trình nhân tạo mang tên Dara Reang Sey. Do vội vã nên chàng đã không kịp phác họa lại công trình ấy mà đành phải lượm lặt của người khác.

Chàng ngủ ở đó một đêm rồi hôm sau lại khởi hành. Chàng đến một ngôi đền cổ kính nhưng chặt ních người. Ấy chính là đền Ăng-Co Vát. Vâng hình ảnh của nó như thế nào thì chàng không muốn miêu tả nữa. Chàng sẽ chuyển sang đặc tả chân thực. Trước mắt chàng không thấy ngôi đền đó đâu mà chỉ thấy người với người. Đây đó... không phải nói là khắp mọi nơi vang lên tiếng nói quen thuộc và nhiều đến mức chàng cứ tưởng đi mãi như thế mà vẫn không thoát khỏi xứ cần lao quê hương chàng. Ngôi đền ấy chàng nghĩ nó phải như thế này:
 

Nhưng không, nó như thế này mới đúng:

Chàng  thấy toàn người với người chứ nàm rì còn nét cổ kính hoang sơ đâu. Chàng ngán ngẩm dấn bước thêm và... ồ, chàng đã thấy một dấu tích rất quen thuộc. Hí hí! Chàng rất lấy làm hãnh diện vì điều ấy.
Chàng nghĩ, cứ chiểu theo cách nghĩ của thiên triều: "xương người thiên triều ở đâu tức là đất thiên triều ở đó" thì ở đây có thể nói rằng ngôi đền cổ này chính thị là ngôi đền của người nước Nam bởi cứ chỗ nào có khắc dấu tên người nước Nam chỗ nó là đất của người nước Nam. 
Bên tai chàng văng vẳng câu nói của một anh thổ dân: đây là dấu ấn của người nước Nam. Nói xong anh thổ dân chỉ vào cái chỗ in dấu tên mà chàng vừa chụp lại.
Chàng đi sâu vào trong ngôi đền cổ, một rừng người trong ngôi đền ấy. Chàng bước trở ra bởi chàng không chen vào được lòng thầm nghĩ khi trở về phải kiến nghị lên chính phủ đệ đơn lên LHQ và Tòa Án Quốc tế yêu cầu nước bạn trả lại ngôi đền cổ cho nước mình!

Chàng lại khởi hành tiếp, sang một ngồi đền cổ khác cách đó không xa, và chàng lại thấy dấu ấn rất Việt Nam:

Người xứ Nam chàng có tập tục sợ thánh thần sống trong nghèo khổ nên hay biếu thánh thần ít tiền lẻ để các bậc thần linh có cuộc sống tốt đẹp hơn. Ấy là nét văn hóa cổ truyền ngàn đời nay của dân tộc chàng. Nét nhân văn ấy ngoài xứ cần lao của chàng thì chỉ còn có ở thiên triều nữa mà thôi. Chàng lấy làm thú vị và nghĩ: Thật tuyệt vời, người Nam ta đã xuất khẩu truyền thống, khai hóa văn minh sang nước bạn. 
Chàng rời khỏi ngôi đền cổ ấy, và đến một ngôi đền mới xây, chàng lại thấy dấu ấn của nền văn minh Đại Việt ở đây. Chắc chắn đây là dấu ấn của văn minh Đại Việt chứ không thể khác được:

Mà người Nam ta không chỉ biết thương xót đến chư thần, người Nam ta còn biết thương xót cho cả những con người bất hạnh nơi trần gian:
- "Tờ 1000 việt nam đồng đã sánh vai với các tờ tiền khác đi muôn nơi! Còn gì đáng tự hào hơn!" - chàng thầm nhủ

Sau khi khảo cứu hết cả dấu ấn nước Nam tại xứ bạn, chàng tiếp tục hành trình tìm hiểu nền văn hóa nước bạn chàng chợt nhận thấy rằng hóa ra, xứ bạn đã được người nước Nam khai hóa văn minh từ lâu rồi. Nhiều dấu ấn rất nước Nam ở đây. Trong ngôi đền cổ, ở nùm cây có anh thổ dân sợ trời hanh vật khô cây cỏ thiếu nước mà gửi gắm chút tâm tình; ngoài phố, gần thành quách cung điện hay trên những chặng đường xa lộ sợ rằng người lao công không có việc làm, nhiều tấm lòng nhân ái đi Lexus, Camry, Range Rover, BMW X8 gì gì đó đã nhẫn nại hạ kính xuống, cố khạc ra một ít nước bọt hay ném một  vài thứ xuống đường để tạo công ăn việc làm cho người lao công. Chàng không thể chụp lại cảnh gửi chút tâm tình vào lòng đất hay cảnh tạo công ăn việc làm cho lao công bởi họ đều muốn giấu đi danh tính mà hành động rất nhanh. Chàng chỉ có thể chụp lại được những cảnh như đây:
Có một điều kì lạ, chàng đã dành nhiều tâm trí vào chú ý, dường như nước bạn không có thói quen sử dụng thùng chứa rác. Lúc đầu chàng nghĩ không ra nhưng sau khi chứng kiến những tấm lòng cao cả tạo việc làm cho người lao công thì chàng phải ồ lên thán phục tâm ý của người nước bạn. Nếu chỗ nào cũng sạch sẽ thì người lao công há chẳng thất nghiệp hết sao? 
- "Những tấm lòng cao cả ấy xứng đáng được nhà vua nước bạn tuyên dương!" Chàng thầm nghĩ.

Chàng có đi nhiều nơi nữa, và nơi nào chàng cũng thấy có cái gì đó rất văn minh Đại Việt: Ngồi vỉa hè ăn nhậu này, hàng quán bày lấn vỉa hè này, thức ăn trộn hóa chất nè, chặt chém khách nè, móc túi nè,...

Nhưng cũng có nhiều thứ chàng chưa từng thấy ở nước Nam... sự chào đón rất nhiệt tình của người dân nước bạn là thứ mà chàng chưa thấy được ở nước Nam.
Chỗ chàng ở là nơi có nhiều hàng quán. Mỗi hàng quán có mấy cô gái ngồi ở bên ngoài, mỗi khi có người nước khác đi qua, các cô đều nở một nụ cười và vẫy tay chào. Có cô sợ chưa đủ nhiệt tình còn ra hẳn ngoài kéo mọi người vào để biểu lộ tình cảm. 
"Thật là một quốc gia của những con người thân thiện!", chàng nghĩ. Chàng sợ mình đi cả ngày bẩn thỉu không muốn các cô ấy khó chịu mà từ chối nhưng các cô ấy cứ vây quanh chàng, nằn nì chàng vào để biểu lộ tình cảm. Chàng phải làm nhiều cách mới có thể thoái thác được. 
Một vài tấm ảnh chàng chụp được trước khi về nghỉ ngơi




Chàng muốn khám phá thêm nhưng quả thời gian chẳng có nhiều nên chàng đành phải tạm biệt nước bạn quay trở lại xứ cần lao quê hương. Hành trình của chàng kết thúc, mục đích của chàng vẫn chưa đạt được , tức chàng vẫn chưa tìm ra được phương cách nào tốt hơn để xây dựng quê hương đất nước đàng hoàng hơn to đẹp hơn. Có lẽ lần sau chàng phải sang thiên triều thì may ra mới có cơ hội thành công.
___________
À có tấm ảnh chàng rất thích: Một cô khỉ nước bạn. Hí hí